Dòng dõi họ Hồ

Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, họ Hồ có mặt trên một nghìn năm, từ tổ tiên xưa là trạng nguyên Hồ Hưng Dật. Ngài là người trong bộ tộc Bách Việt sang Việt Nam thời Ngũ Qúy làm quan Thái Thú Châu Diễn, Ngài đã sớm lui về hương Bào Đột hoà đồng với dân bản địa. Con cháu của Ngài đến nay đã trên 35 , 36 đời. Họ Hồ từ Quỳnh Lưu đã thành một dòng họ có mặt trên mọi miền đất nước, đóng góp phần tích cực của mình trong công cuộc Xây Dựng và Bảo Vệ Tổ Quốc, Quê Hương …………

Gia phả Họ Hồ còn lưu lại bản lâu nhất do tiến sĩ Hồ Sĩ Dương viết vào khoảng 1660, Hồ Tông Thế Phả. Trong phả có câu “ Châu trung Hồ tính giai kỳ miêu duệ” nghĩa là con cháu họ Hồ trong châu (vùng đất nghệ tĩnh ngày nay) đều là dòng dõi của Ngài. Sau đó Hồ Sĩ Tông, Hồ Sĩ Đống, Hồ Sĩ Thích, Hồ Sĩ Trinh, Hồ Sĩ Lâm, Hồ Mậu Đờn, …. đời này qua đời khác tiếp tục bổ xung, có gia phả chung của họ và gia phả của những thi phái ở các địa phương. Tại thư viện Hán Nôm còn lưu trử ba tập :

Hồ Tống Thế Phả, Hồ Đại Tộc, Hồ Tộc Hợp Tuyển.

Thể theo nguyện vọng của họ ông Hồ Anh Tuấn (Tức Hồ Sĩ Hơp) dựa vào các gia phả, sử liệu của quốc gia, các sách báo viết về họ Hồ biên soạn quyển “ Dòng Dõi Họ Hồ” quyển sách này đã được nhiều người trong họ Hồ góp ý kiến, chỉnh lý lại nhiều lần. Soạn giả có ý định giới thiệu một cách khái quát nguồn góc và sự phát triển của họ Hồ tong biên niên sử, Soạn giả đã làm việc rất công phu, tư liệu đáng tin cậy. Hồ Anh Tuấn

Tuy vậy do những điều kiện cụ thể soạn giả mới giới thiệu được nhiều về con cháu cụ Hồ Kha, cũng hạn hẹp về không gian và thời gian nhất định. Hơn nữa không không thể không tránh khỏi thiếu sót.

Rất mong nhận được nhiều ý kiến bổ sung và mong rằng các chi phái họ ở các nơi viết tiếp phần chi phái mình để chúng ta sớm có thể tiến tới biên soạn về họ Hồ tương đối hoàn chỉnh chăng

Hồ Viết Thắng tức Hồ Sĩ Khảng

( Thuộc chi thứ nhất họ Hồ ở Quỳnh Đôi)

Hồ Anh Tuấn tức Hồ Sĩ Hợp sinh năm 1922 thuộc chi thứ 3 họ Hồ ở Quỳnh Đôi

DòNG DõI Họ Hồ

Phần thứ nhất

Nguồn gốc:

Chim có tổ người có tông

Lịch sử nước ta quá trình hình thành nhà nước và dân tộc, sự ra đời và phát triển nền văn minh cũng như những truyến thống tốt đẹp của dân tộc là do hai dòng lịch sử hòa làm một từ buổi ban đầu đến thời hiện đại : chống giặc ngoại xâm thường xuyên và quyết liệt để giữ nước và chống thiên tai cũng thường xuyên và quyết liệt cũng không kém để dựng nước và sáng tạo văn minh. Chính đặc điểm nổi bật đó của lịch sử nước ta qui định một nét cơ bản về lối sống cho cả dân tộc từ buổi đầu dựng nước cho đến ngày nay, ấy là gia tộc, trang thôn, tổ quốc gắn bó và hòa làm một, trong một vận mệnh chung, một sự phấn đấu chung ngoan cường và bền bĩ. Tuy có những thay đổi qua các thời kỳ lịch sử, nhưng cái tích cực cái ưu tú cốt lõi của quan hệ dòng họ và tổ chức thôn xã vẫn được nhân dân chọn lọc giữ gìn lưu truyền và phát triển từ thế hệ này đến thế hệ khác.

Để phát huy những nét tốt đẹp của truyền thống gia tộc, đồng thời giúp cho con cháu hiểu biết về nguồn gốc dòng họ và thứ bậc thân sơ khoảng giữa thế kỹ XVII Đông các đại học sĩ Tham Tụng Duệ quân công Hồ Sĩ Dương (1621 – 1681) đã biên soạn “Hồ Tông Thế Phả” Năm 1725 con cháu các chi họ Hồ ở thôn Quỳnh Đôi đã tập trung xây dựng nhà thờ để cúng lễ tổ tiên, Tham nghị Hồ Sĩ Tông thiết kế và chỉ đạo thi công, qua nhiều lần tu bổ, hiện nay nhà thờ gồm có thượng điện, hai nhà tả hữu vu và bái đường. Hàng năm con cháu tổ chức trọng thể lễ dân hương tại nhà thờ vào ngày 12 tháng giêng âm lịch để tưởng niệm tổ tiên và những bậc tiên liệt của dòng họ.

Trong nhà thời có 3 đôi câu đối nêu lên cõi nguồn dòng ho, sự hiển đạt của con cháu và những truyền thống tốt đẹp của gai tộc

CâU THứ NHấT :

“ Khai tất tiên, nhất bản năng song cán;

Xương quyết hậu, thiên nhi dự vạn tôn”

Nghĩa là : Mỡ mang trước tiên, một gốc sinh 2 cành ( cán còn có nghĩa là tài năng) Thịnh vượng về sau, nghìn con cùng vạn cháu.

CâU THứ HAI :

“ Triệu cơ thử địa Trần nhi quý

Thụ lộc vu thiên Lễ dĩ lai”

Nghĩa là : Dựng cơ nghiệp ở đất này từ cuối đời nhà Trần, hưởng phúc lộc của trời từ đời Lê đến nay.

CâU THứ BA :

“ Cổ nguyệt môn cao, hệ xuất thần minh Ngu đế trụ;

Bảng sơn địa thắng, thế truyền thi lễ Khổng sư tông ”

Nghĩa là : Họ Hồ cửa hiển vinh, con cháu dòng dõi tài giỏi vua Ngu Thuấn; Núi bảng hướng đất tốt đời đời nề nếp nêu cao đạo Khổng Tử

Bộ văn hóa thông tin và thể thao nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã ra quyết định số 97/QĐ ngày 21-1-1992 công nhận nhà thờ họ Hồ xã Quỳnh Đôi huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An là di tích lịch sử và văn hóa.

– — —

Đầu thế kỷ thứ X, Triều Đường (618-907) – phong kiến Trung Quốc suy yếu tiếp theo là nội tình Trung Quốc bị phân biệt tức thời Ngũ Quý (1) hay Ngũ Tại (907-960). Khúc Thừa Dụ hào trưởng đất Hồng Châu (Hải Dương) nổi dậy chiếm thành Đại La và tự xưng là Tiết Độ Sứ. Tháng giêng niên hiệu Thiên Hựu thứ ba (906) Đường Chiêu Tiên Đế phải thừa nhận và xin phong chức Đồng Bình Chương Sự tỉnh Hải Quân. Tiết Độ Sứ An Nam đô hộ phả cho Khúc Thừa Dụ. Tiết Độ Sứ là chức vụ đại diện uy quyền của Hoàng Đế nhà Đường ở các thuộc quốc. Tuy mang danh hiệu quan lại nhà Đường nhưng Khúc Thừa Dụ đã có chủ trương xây dựng một chính quyền tự chu, đặt cơ sở cho nền độc lập dân tộc. Nối chức Khúc Thừa Dụ (905 – 907) là Khúc Thừa Hạo (907 – 918) và Khúc Thừa Mỹ (918 – 923) . Khúc Thừa Mỹ thần phục nhà Hậu Lương (907 – 923) . Khi ấy chúa Nam Hán Chiếm giữ đất phiên (Quảng Đôõng Trung Quốc) đem quân đánh bắt Khúc Thừa Mỹ rồi đặt chức thừa sứ ở Giáo Châu Tướng họ Khúc là Dương Đình Nghệ từ ái Châu (Thanh Hoá) dem quân ra đánh chiếm lại châu thành, tự xưng là tiết độ sứ (923 – 937) sau ông bị nha tướng là Kiều Công Tiễn giết chết chiếm chức Tiết Độ Sứ.

Năm 938 với chiến thắng Bạch Đằng, một võ công hiểm hách vang dội Bắc Nam giết giặc nội phản Kiều Công Tiễn, đuổi quân ngoại xâm Nam Hán , Ngô Quyền quyết định bỏ chức Tiết Độ Sứ của phong kiến phương bắc tự xưng vương (939 – 944) xây dựng một quốc gia độc lập, mỡ ra một thời kỳ mới của dân tộc Việt Nam.

Trong bối cảnh lịch sử trên, theo “Hồ Tông Thế Phả” thời ngũ đại,triều Hậu Hán (947 – 951) đời Hán ẩn Đế (948 – 951) Trạng Nguyên Hồ Hưng Dật dòng dõi nhà nho thuộc dân Bách Việt ở Chiết Giang nhận chức thái thú Châu Diễn (vùng đất Nghệ Tĩnh ngày nay) . Sau một thời gian ngắn thái thú Hồ Hưng Dật chán ngán cảnh quan trường đưa gia quyến đến hương (2) thờ đặt ( vùng đất. Phía tây huyện quỳnh Lưu ngày nay) khai hoang lập nghiệp vui thú ruộng vườn, ông khuyên con cháu sống chan hoàvới nhân dân địa phương, tối lữa tắt đèn có nhau, cần cù lao động sản xuất, giữ gìn nếp sống thanh đạm. Trạng nguyên Hồ Hưng Dật giúp đỡ nhân dân trong vùng tổ chức học văn luyện võ, chăm sóc ruộng nương, bảo vệ trang thôn, uy tín và thế lực của ông ngày càng mỡ rộng ra các hương chung quanh được nhân dân qúy trọng và tôn làm trại chủ.

Sau khi Ngô Vương Quyền mất (944) các thế lực phong kiến địa phương bắt đầu nổi dậy , Hậu Ngô Vương là Nam Tấn Vương ngô xương văn mất (965), chính quyền trung ương tan rã. Từ thanh hóa trở ra trong nước hình thành 12 thế lực cát sứ, xây thành đấp lũy thôn tính lẫn nhau, gây ra loạn 12 thứ quân (965 – 967).

(1) Thời Ngũ qúy (hay Ngũ Đại) đối chiếu với niên biểu lịch sử Việt Nam như sau Hậu Lưong (907 – 923) Lương Dưong Khúc Thừa Hạo (907 – 918) và Khúc Thừa Mỹ (918 – 923) ; Hậu Dương (923 – 936) tướng Đương Dương Đình Nghệ (923 – 936) ; Hậu Tấn (936 – 947) tướng Dương Tiền Ngô Vương lúc Ngô Quyền (939 – 944) ; Hậu Hán (947 – 951) tướng dương Dương Tâm Kha (tướng bình Vương (941 – 951) Hâu Thu (951 – 960) tướng Dương hậu Ngô Vương (Nam Tấn Vương và Thiên Sách nam Vị 951 – 965)

(2) Thời nhà Đường chia nước ta thành 12 châu gồm 50 huyện, 159 hương. Hương là đơn vị hành chính dưới huyện, tán ra . Tiểu hương có 70 – 130 hộ, đại hương có 160 – 540 hộ tiểu xã có 10 – 50 hộ. Đại xã có 30 – 60 hộ.

Có Rào trưởng trong châu đến gặp ông Hồ Hưng Dật thăm dò ý kiến “Trong châu Diễn ta, tôi nhận thấy tôn ông được mọi người kính yêu và mến phục, sau dịp này tôn ông không đứng ra cứu dân giúp đời một phen.”

ông Hồ Hưng Dật chân thành nói rõ chính kiến của mình “ Người xưa có câu : Một tướng thành công hàng vạn xương cốt người khác phải khô héo. Kinh thư còn ghi : Lửa bốc cháy núi Côn Cương, ngọc đá điều bị đốt cháy hết cả. Tôi luôn luôn nhận rõ dân là gốc của mọi thời đại. Vạn đại vi dân, đó là điều tôi mong muốn dặn lại con cháu.”.

Năm 1009 (Kỷ Dậu) Lý Công Uẩn lên ngôi vua tức Lý Thái Tổ. Vua Lý Thái Tổ chủ trương dùng chính sách nhu viễn, các vua nhà lý đem công chúa gã cho một số hào trưởng có thanh thế lấy tình thân gia tộc để ràng buộc họ. Đại Việt Sử ký toàn thư ghi : Con cháu trạng nguyên Hồ Hưng Dật có người là Tuân Kiệt đương thời đã lấy công chúa Lý Nguyệt Đích sinh ra công chúa Nguyệt Đoan.

Sau đó sử sách không ghi chép gì về Miêu Duệ trạng nguyênHồ Hưng Dật, thá6t truyền 10 đời (từ đời thứ 2 đến đời thứ 11) thời gian từ cuối thế kỷ thứ X đến giữa thế kỷ thứ XIII.

– – – – –

Khoảng cuối thế kỷ thứ XIII, cháu đời thứ mười hai của trạng nguyên Hồ Hưng Dật là Hồ Liêm dời đến ở hương Đại Lại,

Phủ Thanh Hóa, làm con nuôi Tuyên Phủ Sứ Lê Huấn mới đổi họ là Lê (Lê Liêm), Qúy Ly (1336 – 1408) là cháu bốn đời(Tầng Tôn Chắt) của Lê Liêm.

Quý Ly có hai người cô (con chú) được vua Trần Minh Tông (1313 – 1329) tuyển vào cung phi, một bà là hoàng phi Minh Từ sinh vua Trần Nghệ Tông (1370 – 1372), một bà là hoàng phi Đôn Từ sinh ra vua Trần Duệ Tông (1373 – 1377), con gái trưởng của Hồ Qúy Ly là vợ vua Trần Thiện Tông (1389 – 1398). Vua Trần Nghệ Tông lại đem em gái góa chồng là công chúa Huy Ninh gã cho Quý Ly. Vốn là người thông minh lỗi lạc, có khí phách , thủ đoạn và nhờ những quan hệ trên, Quý Ly trở thành người có quyền thế lớn trong triều Trần Thời đó.

Năm Đinh Mão, Niên hiệu Xương Phù thứ mười (1387), Thượng hoàng Trần Nghệ Tông dùng Qúy Ly giữ chức Đồng bình chuẩn sứ (Tể Tướng). Năm ất Hợi, Niên hiệu Quang Thái thứ tám vua Trần Thuận Tông trao cho Quý Ly chức nhập nội phụ chính Thái Sư Bình Chương quân quốc trọng sự Tuyên Trung Vệ Quốc Đại Vương. Với cương vị đó Qúy Ly ra sức xây dựng lực lượng và thâu tóm mọi quyền hành vào tay mình.

Năm Đinh Sửu (1397), tháng giêng, Qúy Ly sai Lại Bộ Thượng Thư Đỗ Tỉnh vào thanh hóa xây dựng kinh đô mới ở An Tôn (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc) gọi là Tây Đô, hai phía tả hữu thành đều có núi đá, hai con Sông Mã và Sông Lương hợp lưu ở phía trước. Thành Tây Đô là một kiến trúc lớn của dân tộc Việt Nam đồng thời là một địa điểm chiến lược trong công cuộc giữ nước thời đó.

Ngày 28 tháng 2 năm Canh Thìn (3/1400) Qúy Ly cưỡng ép vua Trần Thiếu Đế (4/1398 – 3/1400)phải nhường ngôi cho mình và chính thức lập ra Triều Nhà Hồ, năm đó Quý Ly đã 65 tuổi, Quý Ly tự xưng là hoàng đế đặt nguyên hiệu là Thánh Nguyên, đổi quốc hiệu là Đại Ngu và đổi họ là họ Hồ.(1)

Tháng Giêng năm Tân Tuỵ (1401), Hồ Hán Thương lên nối ngôi vua Quý Ly tự xưng là thái thượng hoàng cùng coi việc nước

Năm Quý Mùi, Niên hiệu Khai Thái thứ nhất (1403) Hồ Hán Thương dựng miếu thời ở Lăng Thiên Xương (Thanh Hoá) để thờ cúng khảo Hồ Liêm lại dựng miếu thờ ở Bào Đột (Châu Diễn) để cúng lễ tổ tiên là Hồ Hưng Dật .

Trong hoàn cảnh suy yếu của xã hội Việt Nam cuối triều trần , Hồ Quý Ly đã dụng tâm thực hiện những cải cách tương đối táo bạo nhằm khôi phục uy thế chính quyền trung ương, cứu vãn nền kinh tế tài chánh và tăng cường lực lượng quân sự nước nhà . Về

(1) Đại Việt thông giám cương mục chính biên, quyển XI, tờ 37 ghi : Họ Hồ là con cháu Ngu Thuấn (một vua thời thượng cổ Trung Quốc, từ 2255 đến 2208 trước công nguyên). Ngu Thuấn được Đường Nghiêu truyền ngôi vua, sau thường gọi đời ấy là đời Đường Ngu hay đời Nghiêu Thuấn (tương đương thời kỳ đầu của các vua Hùng). Con Ngu Yên dòng dõi Ngu Thuấn là Vĩ Mãn được Chu Vũ Vương (1066 – 1063 trước công nguyên) phong cho đất trần gọi là Hồ Công Tước) sau dùng chữ Hồ làm họ, nên Quý Ly đổi họ là Hồ và đặt quốc hiệu là Đại Nam .

mặt nội trị Quý Ly thủ tiêu chế độ nô tì và đại điền trang của quý tộc nhà Trần hạn chế địa chủ bình dân và thương nhân, dùng cách đo lại ruộng đất, bắt chủ ruộng phải khai lại số mẫu, sào và tiêu đề họ tên trên thửa ruộng của mình. Ruộng nào không khai thì lấy làm công điền cho những nông dân nghèo không có ruộng hay thiếu ruộng cày. Đặt ngạch thuế thuyền buôn, chia làm 3 hạng, mỗi mái chèo phải nộp từ 3 đến 5 quan.

Quý Ly đàn áp phong kiến nhà chùa, phàm các tăng nhân chưa đầy 50 tuổi điều phải hoàn tục, trong tuổi quy định phải chịu binh dịch. Ai muốn xuất gia đi tu phải qua một kỳ thi trúng tuyển thì được trao các chức tăng đường, đầu mục, tri cung, tri quán, tri tự.

Triều Hồ mỡ rộng việc học ở các tộ để nâng cao dân trí và đào tạo nhân tài, chấn chỉnh chế độ thi cử theo hương thiết thực .Lập quảng tế thự để chữa bệnh cho nhân dân. Đặt lại ngạch thế đinh, mỗi đinh nam vô luận có hay không mỗi năm phải nộp thuế nhân định 3 quan .

Phép tài chính táo bạo nhất của Quý Ly là phát hành tiền giấy. Quý Ly cho in bảy hạng tiền giấy, từ giấy mười đồng đến giấy một quan Tiền giấy in xong Quý Ly hạ lệnh cho nhân dân phải đem tiền đồng đến đổi, cứ một quan tiền đồng lấy quan hai tiền giấy. Ai cất dấu tiền đồng hay in tiền giấy giả thì bị tử hình. Để đề phòng nạn hạ giá tiền giấy và lạm phát, Quý Ly cấm các nhà buôn không được tự ý đống cửa hàng hay bán giá cao. Đặt chức thị giám ở kinh kỳ để kiểm soát việc buôn bán.

Những chủ trương cải cách đó đều bị các tầng lớp quý tộc nhà Trần phản đối hoặc thực hiện chểnh mảng, thành ra ít có hiệu quả và trở nên gánh nặng cho dân.

Tháng 12 Bính Tức (1406) vua Minh Thành ToÅ sai các tướng Trương Phụ, Mộc Thạnh và Liễu Thăng đem 20 vạn bộ binh và kỵ binh sang xâm chiếm nước ta.

Nhìn chung các tần lớp nhân dân Việt Nam thời đó còn nhiều quan hệ về thân tộc và về tinh thần với nhà Trần, đồng thời các chính sách cải cách của Triều Hồ đã làm cho lòng người ly tán và tước bỏ mất khả năng đoàn kết dân tộc chống ngoại xâm. Ngoài ra còn có một số quan lại bất đắc chí như anh em Mạc Đĩnh Thúy và Đặng Nguyên vẽ bản đồ địa hình làm hướng đạo dẫn quân Trương Phụ vượt qua sông. Phú Lương đánh úp thành Đông Kinh và tiến đánh Thanh Hóa vì vậy nhà Hồ đã thất bại sau nữa năm chống đánh quân minh xâm lược . Tháng 5 năm Đinh Hợi (1407) tại cửa biển kỳ loa và núi Cao Vọng (nay thuộc huyện Kỳ Anh Tỉnh Hà Tỉnh), Hồ Quý Ly cùng một số con cháu và triều thần bị bắt và bị đưa về Trung Quốc . Theo sách “Minh Sử Ký Sự” thì Hồ Nguyên Trừng và cháu là Nhuế được tha vì Nguyên Trừng giỏi nghề chế binh khí và phép chế súng nên được vua Minh trọng dụng bổ nhiệm Công Bộ thị Lang, còn Quý Ly bị đài đi thú thủ Quảng Tây và chết ở đó.

Mùa hạ , tháng 4 năm Đinh Tỵ, niên hiệu Thiệu Bình thứ tư (1437) vua Lê Thái Tông muốn xem thủ chiếu và thi văn Họ Hồ Nguyễn Trãi tìm kiếm được thơ văn bằng quốc âm vài chục bài dâng lên. Nhưng thơ văn Hồ Quý Ly do Nguyễn Trãi sưu tầm đến nay cũng mất cả. Sử chép Quý Ly giỏi thơ quốc âm và coi trọng chữ nôm. Hiện chỉ còn tập”Nam ông Mộng Lục” của Hồ Nguyên Trừng (Lưu truyền ở Trung Quốc) gồm nhiều bài thơ và văn xuôi nói lên nỗi lòng của tác giả luôn hướng về Việt Nam.

– – – – – –

Đầu đời vua Trần Minh Tông (niên hiệu Đại Khánh 1314 – 1323 và Khai Thái 1324 – 1328), ông Hồ Kha cháu đời thứ mười ba của trạng nguyên Hồ Hưng Dật, trước lập nghiệp ở thôn quý trạch (nay là xã thọ thành, Huyện Yên Thành, Tỉnh Nghệ An) sau dời sang Trung Tiên Sinh, xã Nghĩa Liệt, Tổng Đường Khê (nay thuộc xã nghĩa mỹ, huyện Nghĩa Đàn, Tỉng Nghệ An).

Năm ất Sửu, niên hiệu Khai Thái thứ 2 (1235) ông Đào Kha từ tiên sinh qua Bào Đột đến xem sét vùng đất sa bồi ở động bắc xã Hoàn Hậu. Đứng trên dãy đất cao (nay là cánh đồng tương thuộc xã quỳnh đôi) ông nhìn ra bốn phía xem xét địa thế thiên nhiên phong cảnh thật là sơn thủy hữu tình, hình thế núi sông đẹp như tranh vẽ. ông Hồ Kha bàn với vợ con quyết định khai phá bờ bụi, dậm lại đất đai để trồng hoa màu, mỡ rộng sinh kế với ý đồ lâu dài. Sau đó ông giao khu đất này lại cho con trai cả là Hồ Hồng tiếp tục sự nghiệp khai hoang lập ấp, ông Hồ Kha vẫn ở cơ sở Nghĩa Liệt và giao cho con trai thứ là Hồ Cao khu đất tại Quỳ Trạch để lập nghiệp. ông Hồ Kha mất ở Trang Tiên Sinh, mộ tán ở sứ ồ ồ, xã Nghĩa Liệt, Tổng Đường Khê, ông Hồ Kha trở thành ông Tổ Họ Hồ lộ Diễn Châu thời Trần – Lê và cũng là ông tổ các chi họ Hồ ở nhiều tỉnh trong nước Việt Nam ngày nay.

Trên vùng đất ông Hồ Kha đặt nhát cuốc đầu tiên, ông Hồ Hồng đã mời ông Nguyễn Thạc và ông Hoàng Khánh cùng góp sức góp của chiêu dân lập ra trang Thổ Đôi. Đến năm Mậu Dần, niên hiệu Xương Phù thứ hai (1378) đời Trần Đế Hiện, trang Thổ Đôi mới được chính quyền thời đó công nhận là một điểm dân cư thuộc thôn Kim Lâu, xã Hoàn Hậu, năm Mậu Tỵ, niên hiệu Minh Đức thứ 2 (1528) triều Mạc Đăng Dung, tức là 150 năm sau, dân cư Trang Thổ Đôi đã đông đúc , Bảo Vinh Hầu Hồ Nhân Hi – cháu 5 đời (huyền tôn, Chút) của ông Hồ Hồng – bàn với dân trung chuyển thành thôn Quỳnh Đôi, thuộc xã Hoàn Hậu, tên Quỳnh Đôi (Đồi Ngọc Quỳnh) có từ đó.

Dưới triều vua Trần Duệ Tông (1373 – 1377), châu Tân Bình (nay là tỉnh Quảng Bình) bắt đầu coi là trọng trấn, được bổ xung quân và đặt quân hiệu. Trong thời điểm lịch sử đó, ông Hồ Hồng (con trưởng ông Hồ Kha) tham dự binh nhung với chức chánh Đội Trưởng đi trấn thủ Tân Binh. ông đã hy sinh trong chiến đấu để bảo vệ biên cương Tổ Quốc.

Khi làm nhiệm vụ trấn thủ Tân binh, ông Hồ Hồng lấy một bà vợ người địa phương đóng quân sinh ra dòng họ Hồ ở miền đất đó (tức một số chi họ Hồ ở Binh – Trị – Thiên ngày nay) (1) .

ở Trang Thổ Đôi ông Hồ Hồng đã có 4 con hai trai là Hồ Hân và Hồ Nhân và 2 gái là Thị Sinh (chị cả vợ ông Hoàng Khánh) và Thị Hỉ.

Xuân Mậu Tuất (1418) được tin Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh, ông Hồ Hân (con trai trưởng Chánh Đôi trưởng Hồ Hồng) cùng em rễ là Nguyễn Bá Lại (chồng Hồ Thị Hỉ, quê làng Đăng Cao, nay thuộc xã quỳnh giang , huyện Quỳnh Lưu, Tỉnh Nghệ An) tìm đến Lam Sơn tham gia nghĩa quân và chiến đấu đến này giải phóng hoàn toàn đất nước (tháng 12 năm Đinh Mùi – 1427) Năm Mậu Thân, niên hiệu Thuận Thiên Thứ nhất (1428), tháng 3, vua Lê Thái Tổ hội các quan văn võ định việc khen thưởng theo công cao thấp mà xếp đặt phẩm cấp. ông Hồ Hân được phong tá quốc công thần chức quản Lĩnh Trật Chánh Tứ Phẩm. ông không tham gia chính sự mà xin trở về xây dựng trang thôn. Nhân dân quanh vùng đến chúc mừng ông và muốn biết tại sao ông trở về với công việc ruộng đồng. ông Hồ Hân tươi cười nói theo công việc của ông cha mà thôi. ông tôi đã khai phá bước đầu vùng đất này, cha tôi chưa đóng góp được bao nhiêu với bà con, nay tôi phải cùng bà con thực hiện chí nguyện của ông cha, đó là đạo hiếu vậy.

Quản Lĩnh Hồ Hân và vợ cả là Hoàng Thị Xa cùng con em các họ trong trang đắp đê ngăn nước mặn mỡ rộng đất trồng trọt, khoanh vùng nước lợi đánh tôm cá. ông bà sinh và buôi dưỡng trưởng thành 3 con, hai trai là Hồ ước Lễ và Hồ An, một gái là Hồ Thị Thai (vợ ông tổ họ Phan ở Quỳnh Đôi). Ngoài việc chăm lo phát triển nông nghiệp, ông Hồ Hân bàn với các vị gia trưởng mời ông Dương Văn Khai ở huyện Kỳ Hoa (nay là huyện Kỳ Anh) có tiếng học giỏi về làm thầy dạy con cháu học tập.

ông Hồ Hân còn chiêu dân lư vong khai hoang lập ra ấp Thượng Yên (nay thuộc xã quỳnh yên giáp giới sông Mai và xã Quỳnh Đôi), dân có nghề đánh cá, làm muối và cày ruộng, ông lấy bà vợ thứ tên là Tòng Nghĩa sinh được một trai là Hồ Hưởng Phúc, hai mẹ con lập nghiệp ở ấp Thượng Yên và hình thành chi họ Hồ ở đây.

Khoảng niên hiệu Thái Hòa (1443 – 1453) đời Lê Nhân Tông xét công lao các tá quốc công thần, ông Hồ Hân được phong là lục kiêu thắng Quân Đồng tổng tri tòng tam phẩm. ông Nguyễn Bá Lại (con rễ ông Hồ Hồng), tiếp tục hoạt động trong quân đội triều Lê, khi về hưu được phong Thiếu Bảo tước Thuần Quân Công.

ông Hồ Nhân, con thứ chánh Đội Trưởng Hồ Hồng và em Quản Lĩnh Hồ Hân, võ giỏi văn thông, làm võ quan triều Lê, có công dẹp loạn yên dân, được phong chức Đô Thống Tham Đốc tước quan Quận công .

(1) Cũng có những chi họ Hồ ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế là do con cháu từ Nghệ An vào khai hoang lập ấp dưới thờinhà Lê và các chúa Nguyễn, khoảng vào đầu thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVI.

Tháng giêng năm Kỷ Dâu niên hiệu Thuận Thiên thứ 2 (1429) vua Lê Thái Tổ xuống chiếu : Quan võ từ chức Quản Lĩnh, quan văn từ chức Hành Khiển các đạo trở lên, có con trai từ 15 tuổi trở xuống, 9 tuổi trở lên, cho vào hầu Hoàng Thái Tử và lập danh sách chọn vào học tập ở học đường Quốc Tử Giám. Do đó Hồ ước Lễ (con trai trưởng Quản Lĩnh Hồ Hân) được tuyển vào học ở Quốc Tử Giám (có thể suy ra Hồ ước Lễ sinh khoảng 1415 – 1420).

Sách “Quỳnh Đôi Hồ Tộc Khoa danh trường biện ghi : Hồ ước Lễ đậu tiến sĩ đời vua Lê Nhân Tông (1442 – 1458) là người mỡ đầu khoa cử của dònh họ Hồ ở Trang Đôi, tức xã Quỳnh Đôi ngày này.

Em Chánh Đội Trưởng Hồ Hồng là Hồ Cao (con thứ ông Hồ Kha) được cha giao cho cơ sở Hồ Trạch tiếp tục xây dựng và mỡ mang. Hồ Cao sinh ra Hồ Tôn Thốc. Vốn thông minh từ nhỏ, Tôn Thốc được ông Nội (Hồ Kha) và gia đình gửi ra du học ở Đường Hào (thuộc tỉnh Hải Dương). Hồ Tông Thốc đậu trạng nguyên niên hiệu Thiệu Khánh (1370 – 1372) đời Trần Nghệ Tông và được trao ngay chức Học Sĩ Viện Hàn Lâm (1373). Hồ Tông Thốc là người mỡ đầu khoa bảng rực rỡ của dòng họ Hồ ở Châu Diễn và cũng là một trong những người mỡ đầu nền văn học của đất Hồng Lâm (Nghệ Tĩnh). Năm Bính Dần, niên hiệu Xương Phù thứ mười (1886) đời Trần Đế Hiện (tức trần phế đế), Hồ Tông Thốc được bổ nhiệm chức Hàn Lâm viện Học Sĩ phụng chỉ kiêm Thẩm hình việnsứ, tước Đường Quân Công.

Hồ Tông Thốc kết duyên với bà Thị ấn (không rõ họ). Bà là người có học vấn, tài sắc vẹn toàn. Hai người cảm nhau về tài hoa, đức độ và thơ văn mà nên duyên chồng vợ. ông Bà sinh ra Hồ Đốn, cũng đậu trạng nguyên, Hồ Đốn sinh ra Hồ Thành, đời thứ ba đậu trạng nguyên triều Trần. (1)

Hồ Tông Thốc sống và làm quan cùng thời với Hồ Quý Ly, theo thế tộc, đầu là cháu đời thứ mười lăm của trạng nguyên Hồ Hưng Dật. Khi Quý Ly lên ngôi vua muốn trao cho Hồ Tông Thốc quan tước để cùng lo việc nước, Tông Thốc lấy cớ tuổi già và tính thích thanh nhàn, phóng khoáng để từ chối. Sau đó Hồ Tống Đốc đưa gia đình về chỗ ở của ông nội (Hồ Kha) là xã Nghĩa Liệt, nay thuộc xã Nghĩa Mỹ, huyện Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An. Thời đó con cháu trạng nguyên Hồ Tông Thốc hầu hết sống ở Quy Trạch, nay là xã Thọ Thành, huyện YênThành tỉnh Nghệ An.

Đời Thứ Nhất Trạng Nguyên Hồ Hưng Dật Thái Thú Diễn Châu

Thất Truyền Mười Đời Từ Cuối Thế Kỷ X Đến Giữa Thế Kỷ XII

Đời Thứ 12 Hồ Liêm

Đời Thứ 13 Hồ Kha

Đời Thứ 14 Hồ Hồng Hồ Cao

Đời Thứ 15 Hồ Hân Hồ Tông Thốc Hồ Quý Ly

Hồ Nhân (1336 – 1408)

(1) Sắc phong của vua thành Thái Triều Nguyễn đều ghi : Hồ Tông Thốc, Trần Triều trạng nguyên Hồ Tông, Trần Triều Trạng Nguyên , Nghệ An Tỉnh, Yên Thành huyện Quì Trạch xã. – Lược truyện các tác giải Việt Nam (tâp 1) ghi : Hồ Tông Thốc có hai con là Tông Lại (chữ Hán viết chữ Lại và chữ Đốn gần giống nhau) và Tông Thành đều đậu trạng nguyên

Phần Thứ Hai

Kế TụC Và PHáT TRIểN

“Bản Đồng Căn” (1)

Từ trước đến nay, cũng như những dòng họ khác, sự chuyển cư của con cháu ông Hồ Kha thể hiện quá trình xây dựng đất nước và bảo vệ biên cương Tổ Quốc Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử nhất định.

Dưới triều Trần, Lê và Nguyễn, thịnh hành chính sách khai hoang lập ấp, phát triển nông nghiệp khôi phục kinh tế sau chiến tranh.

Đời vua Lê Thánh Tôn (1460 – 1497), năm Quang Thuận thứ bảy (1466) đặt thừa tuyên (Trấn Tỉnh) Thuận Hóa phía bắc với Nghệ An, niên hiệu Hồng Đức (1470 – 1497) lập thừa Tuyên Quảng Nam, bắc giáp Thuận Hóa, tây giáp Lào, Sách “Lịch Triều hiến Chương loại chí”, lập Dư Địu Chí viết : “Quảng Nam là một trấn lớn ở phương nam, phần nhiều là dân hai trấn Thanh Hóa và Nghệ An được đưa vào khai hoang lập ấp. Đất màu mỡ nên nguồn lợi có nhiều, ruộng vườn tốt, mùa màng lợi thu, thóc lúa và xúc vật có nhiều thường cung cấp cho các trấn khác … Sản vật quý như vàng bạc, châu báu, trầm hương không hiếm. Ngựa voi cũng nuôi rất nhiều.”

Đoan quận công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1558 và kiêm trấn thủ Quảng Nam năm 1570, Nguyễn Hoàng đã thu phục được nhiều người nghĩa dũng thao lược và đông đảo nông dân ở Thanh Hóa, Nghệ An dắt dìu gia quyến vui vẻ đi theo. Khoảng cuối thế kỷ thứ XVI, Nguyễn Hoàng mỡ thêm phủ Hoài Nhơn (Sau đổi là Quy Nhơn, tức tỉnh Bình Định).

Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 – 1687) lập ra ba phủ : Phú Yên tức tỉnh Phú Yên, Bình Khang và Diên Khánh (tỉnh Khánh Hòa). Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725) lập ra phủ Bình thuận (tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận) và phủ gia định (miền đông nam bộ). Đến đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738 – 1765) mới hoàn thành việc khai phá vùng Tây Nam Bộ lập ra trấn Hà Tiên. Các chúa Nguyễn chiêu mộ những người có tiền của các trấn Thuận Hóa, Quảng Nam, tập trung dâ lưu vong và tù binh quê Nghệ An (trong phân tranh Trịnh – Nguyễn 1627 – 1672) vào khai hoang lập ấp, hình thành những vùng dân cư đông đúc phồn thịnh. Trong những đợt di dân đó, ít nhiều có con cháu Họ Hồ, hình thành những chi họ hồ ở Trung Bộ và Nam Bộ Việt Nam ngày nay.

ông Hồ Kha sinh khoảng cuối thế kỷ XIII, khi dân tộc Việt Nam đã ba lần chiến thắng quân xâm lược Nguyễn trong vòng 30 năm (1258 – 1288). Tinh thần phấn khởi và niềm tự hòa trước những chiến công oanh liệt đã cổ vũ nhân dân ta trong công cuộc lao động phục hồi kinh tế, phát triển văn hóa. ông Hồ Kha là người mở đầu khai phá vùng đất Thổ Đôi. ông Hồ Hồng nối chí cha đã cùng hai ông Hoàng Khánh và Nguyễn Thạc thành lập trang Thổ Đôi.

Quân Lĩnh Hồ Hân (con trưởng ông Hồ Hồng) là tá quốc công thần nhà Lê, nối chí ông cha cáo quan về quê xây dựng trang Thổ Đôi và tiếp đó khai hoang lập ấp Thượng Yên (nay thuộc xã Quỳnh Yên, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An).

Tiến sĩ Hồ ước Lễ và vợ là Lê Thị Ngọc Thảo (con gái hành khiển Lê Khắc Nhân ở thôn Hiền Lương, cùng xã Hoàn Hậu) sao khi về hưu đã tiếp tục sự nghiệp của cha (Quản Lĩnh Hồ Hân) cùng với vợ chồng em là Hồ An đã góp sức với con cháu các họ khác trong trang bồi trúc đê đập đường sá, mỡ rộng đá6t đai canh tác trong Thổ Đôi, tổ chức đào giếng tạo ra nguồn nước ngọt cho nhân dân sử dụng trong sinh hoạt.

Tahm Đốc Hoan Quận Công Hồ Nhân (em Hồ Hân) vvà vợ là Nguyễn Thị Hà tổ chức khai hoang quen biển Quỳnh Lưu lập ra hai ấp Đa Kỳ nội ngoại, tên đầu tiên của hai thôn Phú Đa và Phú Phong, nay hợp thành xã Quỳnh Bảng. ông Bà sinh được hai trai là Hồ Bá Nhàn và Hồ Mậu Trung, đều là võ quan triều Lê, Hồ Bá Nhàn giữ chứ Chánh Đội Trưởng thủy bộ có nhiều quân công được phong tước Diệm Lộc Hầu, tiếp tục định cư xây dựng ấp Đa Kỳ, sinh ra các chi họ Hồ ở xã Quỳnh bảng ngày nay. Hồ Mậu Trung Giữ chức Trang Vụ tướng quân tước Hoàng (1) Bản đồng căn vốn là cùng một gốc sinh ra – Chữ của bức hoành phi do chi họ Hồ thôn Đồng Bản, xã Đồng thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An cung tiến hiện treo 2 : nhà thờ họ Hồ Quỳnh Đôi

Lộc Hầu, đã khai hoang lập ấp Vũ Duyệt ở vùng trung du huyện Quỳnh Lưu, sinh ra các chi họ Hồ ở đây. Vũ Duyệt là tên đầu tiên của thôn Yên Hòa, nay thuộc xã Quỳnh Trang.

Hồ ước Lễ có ba con trai là Hồ Khắc Cần, Hồ Khắc Kiệm, Hồ Khắc tuấn và con rễ là Dương Thế Thông (chồng Hồ Thị Phi) đều đậu giám sinh, Khắc Tuấn 16 tuổi đậu đồng khoa với 2 anh.

Hồ An (em Hồ ước Lễ) cũng sinh ba con trai là Hồ Sùng Đức (còn gọi là Hồ Văn Nguyên), Hồ Định (còn gọi là Hồ Hoàn Khê) đều đậu giám sinh và Hồ Khuê đậu sinh đồ. ông Hồ Khuê đã tổ chức khai hoang lập ra thôn Đồng Bản (nay thuộc xã đồng thành, huyện Yên thành tỉnh Nghệ An) sinh ra chi họ hồ ở đây.

Đến đời chắt (tằng tôn) của chánh Đội Trưởng Hồ Hồng chỉ còn năm người định cư ở trang Thổ Đôi, sau này trở thành năm chi họ Hồ Quỳnh Đôi phát triển sản xuất, xây dựng xóm thôn theo “ Hương ước” như khuyến khích nghề nông, quý người văn học, trọng tuổi tác, hậu việc tang ma, bỏ việc xa xỉ, cấm đều gian dối,.v.v… Đó là một nông thôn thuần phong mỹ tục có văn học thịnh đạt, đóng góp với đất nước những võ công hiểm hách. dù đâu đại khoa và giữ những chức vụ trọng trách của triều đình nhưng con cháu họ Hồ cũng như con cháu các họ khác vẫn quan tâm đến đời sống của nhân dân nơi chôn nhau cắt rốn. Đông các đại học sĩ tham tụng Duệ Quân Công Hồ Sĩ Dương, Hoàng Giáp bồi tụng Quỳnh Quận Công Hồ Phi Tích, Song nguyên Bồi Tụng Ban Quận công Hồ Sĩ Đống được vua ban thưởng mỗi ông hàng chục mẫu ruộng, các ông đều cúng dân làng, một phần ruộng cấp cho những gia đình có người đi lính, một phần làm ruộng học điền để giúp đỡ khuyến khích tuổi trẻ chăm chỉ học tập. Bà Trương Thị Thành (vợ ông Hồ Sĩ Dương) đưa người thợ mộc về dạy cho dân làng có thêm người thủ công. Bà họ Đàm (vợ ông Hồ Phi Tích) đem nghề dệt lụa dạy cho phụ nữ Quỳnh Đôi góp phần cải thiện đời sống gia đình.

Duệ Quận Công Hồ Sĩ Dương còn chiêu dân khai hoang lập ra bốn thôn : Thọ Vực (nay thuộc xã quỳnh thọ), Như Bá (nay thuộc xã Quỳnh Bá), Mỹ Hòa (nay thuộc xã Quỳnh Mỹ) và Tiên Đội (nay thuộc xã Quỳnh Hoa) ở vùng ven biển và trung du huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, một số con cháu họ Hồ Cũng Đến định cư ở bốn thôn này.

Dòng Hồ Cao lập nghiệp ở Quỳ Trạch (nay là xã Thọ thành, huyện Yên Thành) đã sinh ra 3 trạng nguyên (đệ nhất giáp – đệ nhất danh) dưới triều Trần là Hồ Thôn Đốc, Hồ Tông Đốn và Hồ Tông Thành. Tiếp theo cháu chắt dòng này có ba anh em là Hồ Đình Trung, Hồ Đình Quế và Hồ Doãn Văn đều đậu tiến sĩ triều Lê, Hồ Đình Trung làm Tiết Chế Nghệ An xứ Bắc quân Đô Đốc phủ tả Phủ Thái bảo tước Mỹ Quận Công, sau khi mất được triều Lê Cảnh Hưng và Triều Nguyễn truy phong thượng đẳng thần Hồ Đình Quế làm đại tướng quân Đô Đốc tước Lộc Quận Công, sau khi mất được triều Nguyễn Truy Phong Dực bảo Trung Hưng Chi thần. Hồ Doãn Văn làm quan Hiến sát sứ, chức đứng đầu hiến ty, một ty uy nghiêm và quan trọng chuyên giữ việc kiểm tra phán xét công việc của các quan chức trong trấn (bộ, tỉnh). Nhà thờ họ Hồ ở xã thọ Thành còn giữ được những biển Tiến Sĩ và nhiều sắc phong, có hai đôi câu đối nói lên sự hiển đạt của con cháu dòng Hồ Cao – Hồ Tông Thốc,văn võ toàn tài, sự nghiệp giúp nước lưu truyền mãi mãi.

Câu thứ nhất : “Tam công cựu chỉ kim nhung tại,

Nhất giáp cao danh cổ cộng truyền”

Câu thứ hai : “văn đăng tiến sĩ khoa danh sự nghiệp lưu thiên cổ.

Võ tước quận công lịch đại truy phong thượng đẳng thần.”

Nhà thờ dòng họ Hồ Cao – Hồ Tông Thốc ở xã Thọ Thành đã được Bộ Văn Hóa Thông Tin Và Thể Thao Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ra quyết địng số 154 VHQĐ ngày 25 tháng 1 năm 1991 công nhận là di tích lịch sử và văn hóa.

Chế khoa đinh sửu, niên hiệu Gia Thái thứ năm (1577) đời Lê Thế Tông, dònh dõi Hồ Cao có Hồ Bỉnh Quốc đậu hoàng giáp làm quan lại bộ Tả Thị Lang tước Nam đã chuyển cư vào thôn Bình Lãng, huyện Thiên Lộc (nay là Quỳnh Lan Lộc, Tỉnh Hà Tĩnh).

Đời thứ nhất

Đệ nhất thế tổ Hồ Kha (Nghĩa Liệt)

Đời thứ hai

Hồ Hồng (Thổ Đôi) Hồ Cao

(Quì Trạch)

Đời thứ ba

Đời thứ tư

Đời thứ năm

Hồ Hân (Thổ Đôi) Hồ Nhân (Đa Kỳ)

Hồ ước Lễ Hồ An Hồ Hương Hồ Bá Nhàn Hồ Mậu Trung

(Thổ Đôi)

Noi gương ông cha cháu chắt ông Hồ Kha đời nào cũng có người chuyển cư tham gia xây dựng những vùng kinh tế mới của Tổ Quốc. Cũng có người làm quan hay thầy dạy học ở các địa phương lấy vợ và định cư luôn ở đó sinh ra những chi họ Hồ. Vì vậy ngày nay ở nhiều tỉnh từ bắc chí nam của đất nước cóp những chi họ Hồ gia phả chỉ ghi chép năm hay sáu đời thân cận.

Theo tộc phả dòng họ Hồ ở Đông Bàn, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng thì vị thủy tổ dòng họ này là Hồ Thành Trai (thụy là Chiêu Văn), vợ họ Hoàng (thụy là Trang Tĩnh) từ Quỳnh Lưu (tỉnh Nghệ An) theo đoan Quận Công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Quảng Nam đã khai hoang lập ấp vùng Điện Bàn, con trưởng Hồ Thành Trai là Hồ Ninh Hầu (tước), thụy Võ Lạc, chức Đặc Tấn bố quốc thượng tướng thời Lê – Mạc, Dòng dõi Hồ Thành Trai đến nay (1989) đã truyền được mười bảy đời, gồm có tám chi, con cháu sống nhiều nhất ở Điện Trung Đà Nẵng, Vĩnh Điện, Quế Sơn, Plâyku, Long Khánh, Phan Thiết, Biên Hòa và đặc biệt là Thành Phố Hồ Chí Minh (Chi này xây dựng từ đường ở Ngã Tư Bảy Hiền).

Nhà thờ một chi họ Hồ ở thôn Cương Gián, huyện Nghị Xuân, tỉnh hà Tĩnh, có đôi câu đối nói lên sự chuyển cư của dòng dõi Chánh đội trưởng Hồ Hồng :

“Trâm anh nhất phổ Quỳnh Đôi trụ ;

Hương hỏa thiên thu Cổ Nguyệt đường.”

Dịch nghĩa : -Trâm anh chung một thổ con cháu Quỳnh Đôi;

Hương khói tỏa nghìn năm nhà thờ họ Hồ.

Hiện nay đã có nhiều chi họ Hồ của mười lăm tỉnh và thành phố về Quỳnh đôi nhận nguồn gốc dòng họ. Hàng năm chào đón xuân mới , các chi họ Hồ khắp nơi trong nước đều cử con cháu về nhà thờ họ Hồ ở Quỳnh Đôi (huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An) để cùng lễ tổ tiên vào ngày mười hai tháng giêng âm lịch thể hiện tấm lòng :

“Cây có gốc mới nở cành sinh ngọn,

Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu.

Người ta nguồn gốc từ đâu,

Có tổ tiên trước rồi sau có mình.”

— — —

Theo bảo tàng Tây Sơn (tỉnh Bình Định), nguồn gốc gia tộc của Anh Em Nhạc – Lữ – Huệ vốn dòng dõi họ Hồ ở Quỳnh Đôi con cháu Hồ Thế Anh.

Hồ Thế Anh (còn gọi là Hồ Sĩ Anh), cháu tám đời Quản Lĩnh Hồ Hân, thuộc chi thứ hai họ Hồ Quỳnh Đôi, là con Tả Thị Lan bộ lỗ Lưu Phúc hầu Hồ Hiếu, Hồ Thế Anh đậu phó bảng (thi hội trúng tam trường) năm Vĩnh Thọ thứ tư (1661) đời Lê Thánh Tông, làm quan Hộ Bộ Tả Thị Lang tước Diễn Trạch Hầu. Hồ Thế Anh sinh được năm con trai là Hồ Thế Viêm (sinh đồ), Hồ Phi Cơ (phó bảng), Hồ Danh Lưu, Hồ Phi Tích (hoàng giáp) và Hồ Phi Đoan. Hồ Thấ Diêm sinh ra Hồ Phi Khang. Hồ Phi Khang sinh năm con trai là Hồ Phi Trà, Hồ Phi Phú, Hồ Phi Thọ, Hồ Phi Phúc và Hồ Phi Huông. Từ Quỳnh Đôi, Hồ Thế Viêm đưa gia đình sang ở thôn Nhân Lý (tức Nhân Sơn nay thuộc Xã Quỳnh Hồng, huyện Quỳnh Lưu), sau lại dời về thôn An Lão, huyện Hưng Nguyên (Nghệ An). Từ Hưng Nguyên, Hồ Phi Khang và Phi Phúc cùng bạn bè vào “Đàng Trong” lập nghiệp. Phi Khang và Phi Phúc bước đầu vào làm ăn ở huyện Tuy Viễn (nay thuộc huyện An Nhơn), suau đó Phi Phúc kết nghĩa vợ chồng với một chị Họ Nguyễn gia đình buôn trâu ở vùng Tây Sơn Hạ, Phi Phúc ở luôn quê vợ và lấy họ Nguyễn và từ đó sinh ra Nhực, Lữ, Huệ và Gái

Nghĩa quân Tây Sơn do ba anh em Nhạc, Lữ, Huệ lãnh đạo, Nguyễn Nhạc là thủ lĩnh, mỡ đầu là chiến thắng An Khê (1771), Năm đó Nguyễn Huệ mới 18 tuổi. Đầu năm qúy Tỵ (1773) niên hiệu Cảnh Hưng thữ đời Lê Hiển Tông, Nguyễn Nhạc lập mưu trong một đêm hạ được phú thành Qui Nhơn, thanh thế nghĩa quân lừng lẫy khắp trấn, Nông dân niều địa phương nổi dậy lật đổ bộ máy thống trị của chúa Nguyễn rồi xin gia nhập nghĩa quân Tây Sơn, Đến cuối năm 1773 từ Phủ Tư Nghĩa (tỉng Quảng Ngãi) ở phía bắc đến Phủ Bìng thuận (tỉnh Bình Thuận) ở phía nam đều thuộc quyền làm chủ của nghĩa quân Tây Sơn.

Mùa đông năm Giáp Ngọ (1774) quân Trịnh vượt sông Gianh tiến đánh Thuận Hóa, hạ thành Phú Xuân (30 – 1 – 1975), Chúa Nguyễn Phúc Thuần bỏ kinh thành chạy vào Quảng Nam, Nghĩa quân Tây Sơn theo hai đường thủy bộ tiến đánh Quảng Nam. Chúa Nguyễn Phúc Thuần vội chạy theo đường biển chạy vào Gia Định.

Từ năm Bính Thân (1776) đến năm Quý Mão (1783), nghĩa quân Tây Sơn năm lần tiến công vào Gia Định, cả năm lần quân chúa Nguyễn điều bị thất bại nặng nề và bị đánh bật ra khỏi đất liền. Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần, Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương và nhiều tướng lĩnh tuỳ tùng bị bắt và bị xử từ hình. Chỉ có Nguyễn ánh cùng mẹ và một số anh chị em chốn thoát ra đảo Thổ Châu rồi sang Xiêm cầu viện. Nghĩa quân Tây Sơn đã giải phóng vùng đất “Đàng Trong” từ Quảng Nam đến Hà Tiên. Trong quá trình chiến đấu của nghĩa quân, Nguyễn Hụê đã tỏ ra là một thiên tài quân sự.

Tháng chạp năm Giáp Thìn (1- 1785) trên sông Mỹ Tho, từ Rạch Giá đến Xoài Mít, Nguyễn Huệ đã đánh tan hai vạn thủy quân Xiêm, xóa bỏ âm mưu can thiệp của phong kiến Xiêm vào nội bộ Việt Nam.

Tháng 5 năm Bính Ngọ (1786), lợi dụng thời tiết thuận lợi của mùa hè, gió đông nam thổi mạnh, Nguyễn Nhạc ra lệnh cho Nguyễn Huệ tổng chỉ huy các đạo quân thủy bộ tiến đánh Thuận Hóa. Hơn ba vạn quân Trịnh cùng toàn thể tướng lĩnh điều bị tiêu diệt, quân Tây Sơn làm chủ từ đèo Hải Vân đến sông Gianh. Nhân đà thắng lợi đó, cuộc tiến công Bắc Hà với danh nghĩa “Diệt Trịnh Phù Lê” của nghĩa quân Tây Sơn dưới quyền chỉ huy tài tình của Nguyễn Huệ và được sự hưởng ứng nhiệt liệt khắp nơi của nhân dân, chỉ trong mười ngày (từ ngày 16 đến ngày 26 tháng 6 năm Bính Ngọ – 1786) đã lật đổ nền thống trị của tập đoàn phong kiến họ Trịnh.

Như vậy lần đầu tiên từ Hà Tiên Rạch Giá ở cực nam đến miền biên giới Việt Trung ở phía bắc (tức lãnh thổ Việt Nam ngày nay) đã được thống nhất vĩnh viễn xóa bỏ ranh giới phân chia Nam – Bắc mà các tập đoàn phong kiến Mạc Lê – Trịnh – Nguyễn dựng lên trên ba trăm năm trước đó.

Tháng mười năm Mậu Thân (1788) vua Càng Long nhà Thanh (phong kiến Trung Quốc) hạ lệnh cho Tổng Đốc LượngQuảng Tôn Nghị quyền tiết chế 29 vạn binh lính xâm lược Việt Nam. Khi quân thanh ào ạt vượt qua ải Nam Quan, theo kế hoạch của Ngô Thì Nhậm, Ngô Văn Sở điều động toàn bộ binh và thủy quân lui về đóng giữ từ Tam Điệp (Ninh Bình) đến Biên Sơn (Thanh Hóa). Ngày 25 – 11 quân Thanh tiến vào thành Thăng Long đã bỏ trống Tin Cấp báo về tới Phú Xuân, Nguyễn Huệ quyết định lênngôi hoàng đế để làm sáng tỏ danh nghĩa đối với cả nước và trách nhiệm đới với toàn dân, lấy niên hiệu là Quang trung năm thứ nhất (ngày 25 – 11 năm Mậu Thân – 1788). Sau đó vua Quang Trung tự thống lĩnh tất cả quân thủy bộ tiến ra bắc

Từ đêm 30 tháng Chạp năm Mậu Thân (25 – 1 – 1789) đến trưa ngày mùng 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu (30 – 1 – 1789) với tinh thần dũng cảm tốc chiến tốc thắng vua Quang Trung Nguyễn Huệ đã quét sạch 29 vạn quân Thanh xâm lược dưới quyền chỉ huy của Tổng Đốc Lượng Quảng Tôn Sĩ Nghị và những danh tướng Sầm Nghi Đống, Hứa Thế Hanh, Trương Tiêu Long, Thượng Duy Thăng .v..v… Qua chiến thắng lớn lao này đã giữ vững nền độc lập của Tổ Quốc, đồng tời chấm dứt nạn xâm lăng của tập đoàn phong kiến phương bắc luôn luôn đe dọa dân tộc Việt Nam từ mấy nghìn năm trước. Vua Càng Long hoàng đế hiếu chiến nhà thanh) phải công nhận vua quang Trung là An Nam Quốc Vương.

………. Sử sách Việt Nam đã ghi chép : Vua Quang Trung Nguyễn Huệ là ông vua Anh dũng, lấy võ lược mà dựng nước , biết trọng những người hiền tài để xây dựng Quốc Gia. Những Danh Sĩ như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích, Nguyễn Thế Lịch, Nguyễn Bá Lân,… đã góp nhiều ý kiến cho vua Quang Trung trong chính sách đối nội và đối ngoại. Đối với ẩn sĩ Nguyễn Thiếp (tức La Sơn Phu Tử) vua Quang trung đã nhiều lần cử quan trọng thần đem lễ vật đến mời ông ra giúp. Lúc đầu ông kiên quyết không nhận lễ và không chịu ra làm quan vì vẫn muốn giữ lòng trung với triều Lê, cuối cùng do sự khẩn khoản của vua Quang Trung ông cũng nhận vào Phú Xuân bàn việc trị nước.

Vua Quang Trung rất coi trọng tiếng nói dân tộc, chủ trương dùng tiếng nôm trong chiếu chỉ, trường học và thi cử người lập sùng chính viện và cử La Sơn phu tử làm viện trưởng để chấn hưng việc học và dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm.

Vua Quang Trung đã tự phê vào bức thư dân làng Văn Chương (Hà Nội) xin dựng lại bia Văn miếu, câu thơ chữ nôm :

“Nay mai dựng lại nước nhà,

Bia nghè lại dựng trên toà muôn gian”

— — —

Cũng như những gia tộc khác sống trên đất nước Việt Nam, con cháu họ Hồ dù chuyển cư lập nghiệpở miền nào cũng đều phát huy được truyền thống tốt đẹp của dân tộc là đoàn kết lao động, phát triển sản xuất và chiến đấu hy sinh để bảo vệ Tổ Quốc, Từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta (1858) rồi đặt nền đô hộ trên cả nước (hiệp ước 25-8-1883) đến đầu thế kỷ XX, nhân dân ta liên tiếp nổi dậy cầm vũ khí chống bọn cướp nước và bán nước với các phong trào chống pháp xâm lược Nam Kỳ (1858 – 1868) và Bắc Kỳ (1873 – 1883), Phong trào Cần Vương (1885 – 1913), Khởi Nghĩa Thái Nguyên (1917), Khởi nghĩa Yên Bái,.v..v….Trong những cuộc đấu tranh đó ít nhiều điều có con cháu họ Hồ tham gia, một số người tiêu biểu thể hiện phẩm chất cao quí của dân tộc Việt Nam là “Trung với nước hiếu với dân”.

Phó bảng Hồ Bá ôn (1842 – 1883) án sát Nam Định đã kiên quyết chiến đấu giữ thành khi thực dân pháp tiến công thành Nam Định (27-3-1883) bị thương nặng và mất :

Thành Nam khói lữa trống dồn,

Lòng vàng phù tá sắc son chẳng dời.

Bốn bên mưa đạn tơi bời,

Hiến thân cho nước giữ nơi chiến trường….”

(Quỳnh Lưu phong thổ diễn ca – Nguyễn Tiến Bảng).

Tháng 7 năm 1885, nghe tin vua Hàm Nghi trên đường ra bắc, một số sĩ phu Quỳnh Đôi do cử nhân Hồ Phi Tự dẫn đầu, có phó bảng Phan Duy Phổ, cử nhân Hồ Đức Thạc, tú tài Hồ Trọng Hoán và Hồ Trọng Miên đã lên Quỳ Châu để đón xa giá, tuy không gặp được vua Hàm Nghi, nhưng việc làm của các ông đã kích lệ phong trào yêu nước trong Huyện Riêng cử nhân Hồ Phi Tự ở lại chờ đợi đã bị bệnh và mất ở Quỳ Châu.

Hưởng ứng phong trào Cần Vương, Hồ Thiện Trang lặp căn cứ chống thực dân Pháp ở vùng Sông Dinh (huyện Yên Thành, Tỉnh Nghệ An) bị quân lính chính quyền đô hộ Pháp bao vây đánh tử tiết trong chiến đấu.

Hồ Trọng Phấn (tức Đội Phấn, quê xã Nghi Vạn, Huyện Nghi Lộc) cùng với Ngô Quảng (tức Đội Quảng quê xã Nghi Hưng huyện Nghi Lộc) và Lê Nguyên (tức Đội Nguyên quê huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh), hai kiện tướng của cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng vận động binh lính người Việt Nam đóng ở thị xã Hà Tĩnh để làm một cuộc binh biến đánh chiếm thành Hà Tĩnh (1909). Nhưng việc bại lộ bọn thực dân Pháp kịp thời ngăn chặn và tập trung binh lính đánh vào căn cứ Hồng Lĩnh (huyệnNghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh) của Đội Quảng và căn cứ Bộ Lư (huyện Anh Sơn tỉnh Nghệ An) của Đội Quyên. Dù lực lượng ít và bị bao vây bốn phía nghĩa quân lợi dụng địa thế hiểm trở vùng rừng núi đã bẻ gãy nhiều đợt tiến công của địch. Trong cuộc rút lui, Ngô Quảng đã thoát khỏi vòng vây, Hồ Trọng Phấn, Lê Quyên bị bắt và bị xử tử hình.

Hồ Bá Kiên (1862 – 1911) con trưởng phó bảng Hồ Bá ôn tham gia phong trào CầnVương do Nguyễn Xuân ôn và Lê Doãn Nhã lãnh đạo (1885 – 1887), sau gia nhập nghĩa quân Phan Đình Phùng (cuộc khởi nghĩa từ tháng 9 – 11885 đến tháng 12 – 1895), cán bộ Duy Tân Hội (1904) và Quang Phục Hội (1912) do Phan Bội Châu thành lập. Hồ Bá Kiện bị chính quyền thực dân pháp bắt giam ở nhà tù Lao Bảo đã tổ chức giết tên cai ngục gian ác và vượt ngục. Khi binh lính pháp đến đàn áp ông hy sinh trong chiến đấu (tháng 5 Năm 1915).

Trong cuộc khởi nghĩa Hoàng Hoa Thám (1887 – 1913), Hồ Sĩ Quý (cháu ruột tiến sĩ Hồ Sĩ Tuấn) giữ chức tán lý quân vụ, Hồ Xuân Quang chức vụ lãnh binh bị thực dân pháp bắt và xử tử hình, nhân dân Bắc Giang quý trọng nghĩa khí của hai ông đã lập đền thờ.

Trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái (1930) Hồ Thị Trâm (tức Cô Bắc) và Hồ Thị út (tức Cô Giang) hai con gái của thầy đồ Hồ Văn Tụy đã nêu gương liệt sĩ hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Giữa năm 1920, Hồ Bá Cự (con trưởng Hồ Bá Kiện) sinh năm 1896 xuất dương sang Trung Quốc , lấy tên là Hồ Tùng Mậu. Khi hoạt động ở Quảng Châu (Lẩu Phú tỉnh Quảng Đông) Hồ Tùng Mậu Lê Hồng Sơn, Phạm Hồng Thái và Lê Hồng Phong đã lập ra tổ chức “Tâm Tâm Xã”. Sau tiếng bom nổ ở Sa Diễn của Phạm Hồng Thái, cuối năm 1924 ông Nguyễn ái Quốc đến Trung Quốc đã gặp nhóm “Tâm Tâm Xã” gồm có Hồ tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong. Đầu năm 1925, ông Nguyễn ái Quốc tổ chức “Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội”, trong đó “Cộng sản doàn” là Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn và Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu trở thành người Cộng Sản đầu tiên của dòng dõi họ Hồ.

Từ khi đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời ngày 3 tháng 2 năm 1930, qua phong trào Xô Viết Nghệ Tỉnh (1930 – 1931), thời kỳ mặt trận dân Chủ (1936 – 1939) Khởi nghĩa Nam Kỳ (22 – 11 – 1940), chuẩn bị tổng khởi nghĩa cách Mạng Tháng Tám năm 1945, tại nhiều địa phương đặt biệt là ở Nghệ Tĩnh đông đảo con cháu họ Hồ đã tích cực hoạt động trong các cơ sở của Đảng và các tổ chức quần chúng của Đảng, hàng trăm người đã bị bắt và bị tù đày hoặc bị xử tử hình . Lịch sử tỉnh đảng bộ Hà tỉnh còn ghi về Đảng viên Hồ Hảo như sau : năm 1942, Hồ Hảo bí thư huyện Uỷ hương Sơn và một số cán bộ cách mạng bị bắt đưa về giam tại đồn phố châu (Hương Sơn). Nhờ giác ngộ được một người lính gác ngục, Hồ Hảo đã thoát ra khỏi trại giam. Sau đó Hồ Hảo cùng một số Đảng viên tổ chức giết tên Phe – rây (Ferrey) chủ đồn điền sông con để lấy súng tiếp theo là thủ tiêu một tên bang tá (chó săn của giặc Pháp) đã chỉ điểm bắt nhiều cán ộ của Cách Mạng. Với vụ bạo động này, ở huyện Hương Sơn đã có 25 người đã bị chính quyền thực dân Pháp tuyên án tử hình, nă người xử bắn ngay trong đó có Hồ Hảo.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Đế Quốc Pháp và Mỹ xâm lược (1946 – 1975) theo tiếng gọi thiên liêng của Tổ Quốc, con cháu họ Hồ ở trên mọi miền đất nước đã cùng nhân dân cả nước tích cực tham gia mọi công cuộc chiến đấu vì nền độc lập và thống nhất của Việt nam. Nhiều người đã trở thành cán bộ trung cao cấp của Đảng, Nhà Nước và Quân Đội. Rất tiếc những cống hiến vẻ vang của họ chưa được gia phả các chi ghi cháp và thống kê đầy đủ. Những sự nghiệp vì dân vì nước của những người trong gia tộc là giá trị tinh thần quí báo cần lưu truyền lại cho các thế hệ mai sau, chỉ sơ bộ tính riêng con cháu họ Hồ ở xã Quỳnh Đôi đã có gần 800 người đứng trong hàng ngũ quân đội nhân dân Việt Nam, trong số đó có hơn 100 người là liệt sĩ.

Phần Thứ Ba

NHữNG GươNG HIềN TàI

“Văn Chương Thụ” (1)

Cũng như các họ ở Quỳnh Đôi nói riêng và Nghệ Tĩnh nói chung, họ Hồ có một gia phong rất đáng quí đã được duy trì từ đời này sang đời khác là coi trọng sự học vấn của con cháu với quan niệm học tập làm cho trí tuệ sáng rạng để biết đạo lý làm người và để rèn đức hi sinh làm gốc ; học tập kiên trì, học tập thường xuyên để kiến thức thấm sâu vào máu thịt biến thành yếu tố cấu thành đời sống. Mọi người trong gia đình coi lao động sản xuất và học tập điều là cơ sở của hạnh phúc, cũng nh7 coi gia đình là hạt nhân của xã hội, đã học tập là chăm chỉ dùi mài, đem cả nhiệt tình và hứng thu vào việc học hành, cho nên có nhiều người gặp cảnh gia đình nghèo khó av64n kiên trì tự học với ý chí mài sắt nên kim, Tuy là sáng “khoai, trưa khoai, tối khoai, khoai ba bữa” nhưng họ học hành thì “ông đậu, cha đậu, cháu đậu, đậu cả nhà”.

Trước đây những năm có thi hương, họ Hồ ở Quỳnh Đôi đều tổ chức thi kiểm tra học lực cho con cháu trước ngày 11 tháng 1 âm lịch, đến ngày 12 tháng 1 là ngày tế lễ tổ tiên những người dự thi đạt kết quả khá và giỏi điều được biểu dương khen thưởng tại nhà thờ họ, đồng thời uốn nắn nhắc nhở những sai sót trong các bài làm.

Với ý thức hiếu họ nên con cháu họ Hồ nhiều người trúng khoa bảng đem bản lĩnh học vấn và đức hạnh góp phần làm nê nsự nghiệp ích nước lợi dân. Cháu chắc ông Hồ Kha, Dưới thời Trần có ba người đậu trạng nguyên , từ Triều Lê về sau đời nào cũng được ghi tên khoa bảng, chỉ tính riêng cpn cháu họ Hồ ở thôn Quỳnh Đôitừ đời Lê Nhân Tông (1443 – 1459) đến khoa (1) Văn chương thụ nghĩa là trồng cây văn chương, chữ của bức hoành phi do chi họ Hồ ở thôn Phú Văn, huyện Yên Thành, Tỉnh Nghệ An cung tiến, hiện đang treo tại nhà thờ họ Hồ xã Quỳnh Đôi, Huyện Quỳng Lưu Tỉnh Nghệ An.

ất Mão niên hiệu Duy Tân thứ chín 1915 triều nguyễn đã có hai hoàng giáp (một song nguyên, Hội nguyên , Đình nguyên), 5 tiến sĩ, 57 người thi hội trúng tam trường (thời Lê) và phó bảng (thời Nguyễn), 110 giám sinh hay cử nhân, và 282 sinh đồ hay tư tài. Từ sau Cách Mạng Tháng Tám năm 1945, nhà nước quan tâm mỡ rộng hệ thống giáo dục đào tạo nhân tài để xây dựng Tổ Quốc giàu mạnh ngày nay cá gia đình con cháu họ Hồ điều có người tó6t nghiệp cao đẳng và đại học. Nhiều ngành có tiến sĩ, phó tiến sĩ và giáo sư là con cháu họ Hồ, đúng với câu “Kim thạch khả diệt nhi phong lưu bất diệt” nghĩa là vàng đá có thể mất đi nhưng phẩm đức tốt thì lưu truyền mãi mãi.

Các nhà khoa cử dòng dõi họ Hồ, mỗi người một vẻ đã có những đóng góp nhất định trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc bằng kiến thức và đức hạnh của mình, đồng thời còn để lại cho đời sau một số thư tịch đáng quí. Sau đây là một số người tiêu biểu được sử sách ghi chép, hoặc có tác phẩm để lại trước Cách Mạng Tháng Tám năm 1945.

Hồ Tông Thốc

Hồ Tông Thốc là con ông Hồ Cao, cháu ông Hồ Kha, đỗ trạng nguuyên niên hiệu Thiệu Khánh (1370 – 1372) đời Trần Nghệ Tông. Oõng biên soạn và sáng tác khá nhiều: Việt sử cương mục, Việt Nam thế cí, An Đăng Báo ân viện bi minh, thảo nhàn hiệu tần thi tập, Phú học chi nam và nhuận sắc sách. Hình thế địa mạch ca của Trần Quốc Kiệt. Đáng tiếc, sau nhiều phen binh lửa, các tác phẩm mất mát hầu hết, hiện chỉ còn lại hai bài thơ được hoàng giáp. Bùi Huy Bích ghi lại trong “Hoàng Việt thi tuyển” bài văn bia “Từ ân tự bi minh tính tự” làm ngày mười hai tháng, bảy năm nhâm tuất (1382) đời Trần Đệ Hiện (tức Trần Phế Đế) có lẻ chính là bài “An Đăng Báo ân viện bi minh”. Về cuốn “Việt sử cương mục (10 quyển), Ngô Sĩ Liên (tác giả Đại Việt sử ký toàn thư) khen “ sách chép việc cẩn thận và có phương pháp, bàn việc xác đáng mà không rườm rà.”

Việt Nam thế chí (hai quyển), quyển nhất chép thế phả mười tám đời Hùng Vương, họ Hồng Bàng, quyển nhì chép thế phả họ Triệu, sự tích có phần rỏ ràng; nhưng llời văn phần nhiều kỳ dị, cũng có thể bổ khuyết cho sử trước. Hiện chỉ còn bài tựa được Phan Huy Chú ghi lại trong sách. Lịch triều hiiến chương loại chí, tập Văn Tịch chín. Bài tựa sách Việt Nam thế chí đã nói lên quan điểm đúng đắn và khoa học về phương pháp chép sử thời cổ còn hỗn mang, con người hiểu biết ít ỏi; truyền thuyết hơn nguồn gốc, lịch sử của mình là đa75c điểm chung của các dân tộc. Vì vậy nếu nhà chép sử thiếu một cái nhìn tinh tế, phủ nhận hoàn toàn hoặc tin theo mù quáng đều không đủ căn cứ. Phương pháp tốt nhất theo Hồ Tông Thống là cứ thu thập những tiếng vọng của quá khứ, những lời truyền ngôn, chọn theo loại để nối thành thế kỷ. Còn việc phân biệt ngọc đá là của của độc giả. Có thể nói Hồ Tông Thốc là người đầu tiên đã đề cập đến vấn đề có tính chất lý lụan về mối quan hệ giữa văn học dân gia nvà lịch sử thời thái cổ. Oõng cũng là người đầu tiên dùng hai từ “Việt Nam” để chỉ Tổ Quốc mình.

Tập Thảo nhàn hiệu tần còn lại bài “Du Đông Đình…. Nhị Khê nguyên vận” là tác phẩm mang tính chất cảm thán thời thế. Trong bài thơ này, Hồ Tông Thốc coi trọng người bạn trẻ Nhị Khê Nguyễn Phi Khanh (1336-1408).

Những lần có Sứ phương bắc đến, Vua Nhà Trần thượng triệu Hồ Tông Thốc đáp. Vốn trí thông minh và tài biện luận ngoại giao, lần nào Oõng cũng làm vừa lòng Nhà Vua và sứ thần nước ngoài phải kính nể. Một làn được cử đi sứ phương bắc, Triều Minh Thái Tổ (1368-1398), trên đường đi qua đền Hãng Vũ, Hồ Tông Thốc ghé vào xem và đề thơ. Đây là cơ sở để Nguyễn Dữ viết thành “Câu chuyện ở đền Hãng Vũ” trong sách “Truyền kì mãn lục”. Qua câu chuyện hoang đường này chính là nhắc lại cái tài làm thơ, tài biện bạch, tính thẳn thắn trong xử thế, đồng thời cũng thể hiện khí phách của một sứ thần Việt Nam.

Hồ Sĩ DươNG (1621-1681)

ông trứơc tên là Hồ Khả Trí, coon giám sinh Hồ Hoàng, thuộc chi thứ ba Họ Hồ ở Quỳnh Đôi, cha mất sớm, nhà rất nghèo, Khả Trí phải cùng mẹ là bà Hoàng Thị Tâm làm thuê cuốc mươn“bán nước chè xanh tần tảo nuôi nhau, nhưng Khả Trí vẫn chuyên cần mượn sách tự học .

Khoa Aỏt Dậu , niên hiệu Phúc Thái thứ 3 (1645) đời Lý Chân Tông , Hồ Khả Trí thi hương đậu giải nguyên năm Mậu Tý(1648), Trí thi dùm người khác cũng đậu giải nguyên ,sự việc phát giác bị cách chức thủ khoa trước đây và phải sung quân .

Hết hạn sung quân Khả Trí xin đổi tên là Hồ Sĩ Dương dự thi khoa Tân Mão niên hiệu Khánh Đức thứ ba (1651)đời Lê Thần Tông học (1) lại đậu giải nguyên ,nhưng vì trước đây bị tội sung quân nên phải đứng thứ hai Khoa Nhâm Thìn (1652) , Sĩ Dương thi hội đậu thứ chín , thi đình đậu tiến sĩ thứ ba .

Năm Kỷ Hợi niên hiệu Vĩnh Thọ thứ ba (1659), đời Lê Thần Tông hạ, vua thân ra đầu bài thi khoa Đông Các đầu tiên. Dự thi là những người đã đậu tiến sĩ , đồng thời phải là hương nguyên , hội nguyên hay đình nguyên . Hồ Sĩ Dương cũng được dự thi . Kết quả lấy đậu 5 người :

Đậu bậc nhất : Nguyễn Đăng Cảo (đậu đình nguyên : thám hoa khoa Bính Tuất –1646)

Đậu bậc nhì : Hồ Sĩ Dương và Nguyễn Chiêm .

Đậu bậc ba : Phạm Duy Chất và Bùi Đình Nguyên .

Những người trúng tuyển được vua ban ân như đậu tam khôi , thứ ba bậc : trạng nguyên , bảng nhãn , thám hoa .

Năm Nhâm Dần , niên hiệu Vĩnh Thọ thứ năm (1662) , tháng năm nhà vua sai Hồ Sĩ Dương lên cửa quan đón tiếp sứ thần phương Bắc .

Năm Qúi Mão, niên hiệu Cảnh Trị thứ nhất (1663) đời Lê Huyền Tông ,tháng hai Hồ Sĩ Dương được cử làm Đông các Đại học sĩ,tước Tử . Năm ấy sửa lại điện Chiêu Sự ở đàn Nam Giao (đàn tế trời đất ). Vua sai từ thần (quan sở trường về văn từ) là Hồ Sĩ Dương soạn văn bia để ghi công việc khánh thành điện Chiêu Sự .

Năm Kỷ Dậu , niên hiệu Cảnh Trị thứ bảy (1669) , Hồ Sĩ Dương thụ chức Hữu Thị long bộ lại ; cùng năm ấy tháng mười hai nhuần Hồ Sĩ Dương được phong tước hầu , vì có công trong việc đón tiếp sứ thần phương Bắc .

Năm Qúi Sửu niên hiệu Dương Đức thứ hai (1673) đời Lê Gia Tông ,nhà vua sai Hồ Sĩ Dương làm chánh sứ sang nhà Thanh . Năm Aỏt Mão , niên hiệu Đức Nguyên thứ hai (1675) , tháng ba khi phái bộ về nước , xét công lao đi sứ , Hồ Sĩ Dương được cử làm Công bộ thượng thư tước Duệ Quân công . Cuối năm đó , Hồ Sĩ Dương được cử làm Tham Tạng phủ liêu ; Hình bộ thượng thư kiêm Đông Các Đại học sĩ .

Ngày 20 tháng 6 năm Vĩnh Trị thứ hai (1677) Tham tụng Hồ Sĩ Dương dâng tờ khải định rõ điều lệ miễn trừ tạp dịch cho các xã trưởng , các lão nhiêu , lão hạng và những người tuổi trẻ bị tàn tật . Các điều thỉnh cầu trên đều được chúa Trịnh chuẩn y .

Nam Vĩnh Trị thứ nhất (1676) đời Lê Hi Tông , Đông Các Đại học sĩ . Tham tụng Hồ Sĩ Dương chịu trách nhiệm hiệu đính bộ “ Việt sử toàn thư bản kỷ tục biên “ của Tham tụng Phạm Công Trứ biên soạn , nhưng việc chưa xong thì ông mất . Năm Tân Dậu , niên hiệu Chính Hòa thứ hai (1681) đời Lê Hi Tông , tháng năm Tham tụng Hình bộ Thượg thư , Hồ Sĩ Dương mất được truy tặng Hộ bộ Thượng thư hàm Thiếu Bảo .

ông được mọi người trong và ngoài nước đánh giá cao . Chu Xán , sứ nhà Thanh sang nước ta năm Chính Hoà thứ tư (1683) đã chú thích câu “Y quan văn vật trọng Nam cương “ trong tập “Sứ giao ngâm” như sau : “Nhân vật nước này về lý học có Trình Tuyền (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Vũ Duệ, Nguyễn Đăng Cảo và Hồ Sĩ Dương , về kinh tế có Mạc Đĩnh Chi , Nguyễn Trung Ngạn , Nguyễn Trãi và Lương Thế Vinh còn về văn học thì khá nhiều .”

Đông Các Đại học sĩ Tham tùng Duệ Quận công Hồ Sĩ Dương để lại các tác phẩm sau đây :

– Lê triều đế vương trung hương thực lục (văn , sử)

– Hoan châu phong thổ ký (văn , địa )

– Hồ thượng thư gia lễ (văn)

– Hồ thông thế phả .

Hồ PHI TíCH (1665-1734)

Hồ Phi Tích là con trai thứ tư phó bảng Hồ Thế Anh thuộc chi thứ hai họ Hồ ở Quỳnh Đôi , Hồ Thế Anh tính nết hiền lành , có đức thương người và thanh liêm , làm quan ông không nhận lễ biếu bất cứ ai . Nhà đông con cho nên có khi thiếu gạo . Một lần người nhà nhận lễ một thúng gạo , rồi lấy gạo đó nấu cơm, Thế Anh biết vậy không ăn để khuyên răn mọi người trong gia đình . Khi làm tri huyện Kỳ Hoa (nay là Kỳ Anh) có một thuyền buôn Hoa kiều bị mất cướp , Thế Anh đã tra xét được bọn cướp thu hồi tài sản cho chủ thuyền . Chủ thuyền xin biếu ông một nửa , ông kiên quyết không nhận. Noi gương ông các con đều có chí tự lập từ lúc còn tuổi trẻ.

Năm muời chín tuổi Hồ Phi Tích dự khoa thi Giáp Tí niên hiệu Chính Hoà thứ năm (1684) đời Lê Hi Tông , đậu ngay giám sinh (cử nhân) đứng thứ ba . Năm Chính Hòa thứ mười tám (1697) thi hội trúng tam trường (phó bảng ). Khoa Canh Thìn niên hiệu Chính Hòa thứ hai mươi mốt (1700) thi đình đậu đệ nhị giáp (hoàng giáp ) đứng thứ hai .

Năm Nhâm Ngọ (1702) Phi Tích được cử làm chức Đốc đồng trấn Hải Dương và Quảng Yên góp phần dẹp yên được bọn giặc quấy phá cướp bóc nhân dân , triều đình thưởng hai trăm quan tiền . Năm Kỷ Sửu (1709) ông được thăng Lại bộ Cấp sự trung .

Năm Tân Mão niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ bảy (1711), tháng ba nhà vua trưng cầu lời bàn nói thẳng việc nước, bản trình bày của Hồ Phi Tích xếp loại hai được thưởng ba nén bạc và mười lăm tấm lụa .

Năm Qúi Tỵ (1713) ông được cử đi phát gạo cứu đói cho nhân dân châu Bế Chánh (tức phủ Quảng Trạch) và các huyện Thiên Lộc (nay là Can Lộc), Thạch Hà, Kỳ Hoa thuộc trấn Nghệ An . ông làm việc tận tụy , chu đáo nhân dân truyền tụng là liêm khiết , thương dân . ông được gọi vào triều bái y nhà vua và thăng chức Đại lý Tự khanh .

Năm Canh Tý ,niên hiệu Bảo Thái thứ nhất (1720) nhà vua xét công các quan , hạn mười năm một lần , Hồ Phi Tích được thăng bạt bộ Hữu Thị lang và ban tước Hầu .

Năm Tân Sửu (1721) tháng ba triều đình cử Chánh sứ Hồ Phi Tích đi sang sứ nhà Thanh (Trung Quốc) . Tháng tám năm Nhâm Dần (1722) đoàn sứ thần về đến kinh đô , xét công lao Hồ Phi Tích được thăng Lại bộ Tả Thị lang, Nhập thị kinh Bồi Tụng , tước Quỳnh Quận công .

Năm ấT Tỵ , niên hiệu Bảo Thái thứ sáu (1725), tháng chín Hồ Phi Tích và Vũ Công Tể sang hội đồng với các quan nhà Thanh để điều tra khám xét địa giới Tuyên Quang và Hưng Hóa. Qua quá trình đối chứng phân tích , cuối cùng vua nhà Thanh phải trả lại phần đất do thổ quan phủ Khai Hóa (tỉnh Quảng Tây) đã lấn chiếm , đó là vùng có khoáng sản chì và đồng .

Năm Canh Tuất , niên hiệu Vĩnh Khánh thứ hai (1730) Hồ Phi Tích được cử làm Thượng thư bộ Công, sau tháng Thượng thư Bộ hình . ông là một trong bốn Thượng thư học vấn uyên thâm thời bấy giờ (Phạm Công Trứ, Lê Hy, Nguyễn Công Hãn, Hồ Phi Tích) . ông được cử vào giảng sách cho Hoàng Thái Nở , ông biên soạn hai tác phẩm “ Thượng quốc quan quang trị “ và “Gia huấn tập” nhưng nay không còn nguyên bản .

Năm Quý Sửu , niên hiệu Long Đức thứ hai (1733) đời Lê Thuần Tông , ông đã sáu mươi tám tuổi xin về hưu, được thông binh bộ Thượng thư và tặng lá cờ có hai đôi câu đối , tạm dịch :

-“ Chính sự tham gia lo việc nước ; Sử kinh giảng giải dạy con vua “.

-“ Giúp rập ba triều tay trọng lão ; Vào ra một buổi bậc danh nho .”

Nhà vua ban cho ông thuế hai làng làm lương hưu, ông bỏ tiền ra mua ruộng để mở rộng con đường chính đi qua làng ; nối tiếp với làng trên và làng dưới, mặt đường rộng năm thước , chân đường rộng bảy thước , góp phần phát triển sản xuất và lưu thông thời đó .

Hoàng giáp Bồi tụng Thượng thư Quỳnh Quận công mất năm (1734) thọ 69 tuổi , được truy tặng Lạc bộ Thượng thư Thiểu Bảo.

Hồ Sĩ TôNG và Hồ Sĩ TâN

Hồ Sĩ Tông là con trưởng Thị nội Phiên phó Hồ Sở Tấn (con ruột Duệ Quận Công Hồ Sĩ Dương ), thuộc chi thứ ba họ hồ ở Quỳnh Đôi . Năm Mậu Ngọ , niên hiệu Vĩnh Trị thứ ba (1678) đời Lê Hi Tông , Sĩ Tông thi hương đậu sinh đề (tú tài) , lúc đó mới mười lăm tuổi . Năm Đinh Mão chính hiệu chính hoà thư tóm (1687). Sĩ Tông 24 tuổi đậu giải nguyên . Khoa Đinh Sửu (1677) thi hội trúng tam trường (phó bảng), bắt đầu làm Hiến lao phủ Đức Quang ( tức phủ Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh)

Năm Chính Hoà thứ 21 (1700) khoa thi hội tam trường Sĩ Tông ưu phân đứng vững một bảng . Vào tới trường bài của Sĩ Tông được khảo quan chấm điểm hạng ưu (rất tốt, giỏi), xếp xuống dưới chiếu để so sánh với những quyển khác xếp hạng tiến sĩ , không may bị bỏ quên . Đến khi yết bảng tiến sĩ không có tên ông . Nhà vua hỏi quyển của người ưu phân bảng tam trường sao không thấy , bắt tìm quyển bài của Sĩ Tông , nhưng không tìm được . Ban gíam khảo nhận chịu lỗi làm mất quyển thi của Sĩ Tông . Các quan chấm thi kỳ đó phải chịu tội giáng xuống ba cấp và mỗi vị phải phạt ba mươi quan tiền . Sĩ Tông chịu hỏng tiến sĩ . ông được nhà vua cho làm quan chức trong Nội phủ , rồi thăng Hoà lấy hiệu Sứ _____________.

Năm Canh Dần, niên hiệu Vịnh Thịnh thứ sáu (1710) nhà vua ban ân mở khoa “Ngự đề phúc thể thiên hạ sĩ vong “(nghĩa là vua ra đề thi để chọn những người học giỏi trong nước), lấy được sáu người đậu , trong đó có năm người đã đậu tiến sĩ , Hồ Sĩ Tông dự thi và đậu đầu , được thăng chức Hình bộ Binh vụ Tư lang trung . Thời đó thôn Quỳnh Đôi phải cung cấp số lính rất nhiều so với dân số , hơn nữa đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn , ông đã xin bộ giảm số lính cho làng . Sau đó ông được thăng chức Tham nghị trấn Hải Dương .

Năm Tân Sửu , niên hiệu Bảo Thái thứ hai (1721) đời Lê Dụ Tông , nhân khoa thi hội , người con thứ hai của ông là Hồ Sĩ Tân đậu tiến sĩ , ông xin các quan về nhà sống với con cháu ông biên soạn sách”Quỳnh Đôi khoá danh trường biên “ ghi chép 707 người đậu các kỳ thi hương , thi hội , thi đình từ năm ất Sửu (1444) , đời Lê Nhân Tông đến năm Bính Ngọ (1726), đời Lê Dụ Tông . ông đã tục biên và hoàn chỉnh quyển “Hồ tông thế phả” do Tham tụng Duệ Quậõn công Hồ Sĩ Dương khởi thảo .

Hồ Sĩ Tân (1691-1760) là con trai thứ hai Tham nhị Hồ Sĩ Tông . Năm Gíap Ngọ , niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ mười (1714), Sĩ Tân dự thi hương đậu ngay giám sinh (cử nhân) ; năm ất Mùi (1715) thi hội đậu phó bảng . Mùa xuân năm Nhâm Dần niên hiệu Bảo Thái thứ ba (1722) đời Lê Dụ Tông , Sĩ Tân dự thi đình đậu tiến sĩ . Bước đầu Sĩ Tân nhận chức Công khoa Cấp sự trung , sau được bổ nhiệm chức Gíam sát Ngự sứ đạo Quảng Yên , rồi thăng Hiến Sát sứ tỉnh Thanh Hóa. Trong khi làm quan ông thường bênh vực người nghèo khó và kẻ thất thế , thẳng tay trừng trị bọn tham quan ô lại , nên không được cấp trên mến phục , lại bị đồng sự chèn ép , ông xin về hưu .

Tiến sĩ Hồ Sĩ Tân để lại sách ”THọ MAI GIA Lễ” một tác phẩm dân tộc học có giá trị được ghi trong “ Lược truyện các tác giả Việt Nam” .

Hồ Sĩ ĐốNG (1738-1785)

Hồ Sĩ Đống là con thứ hai giám sinh Hồ Sĩ Danh (1706-1783) thuộc chi thứ ba họ Hồ ở Quỳnh Đôi . Hồ Sĩ Danh đậu hương cống (cử nhân) thời phong trào nhân dân khởi nghĩa bùng nổ mạnh mẽ và lan rộng khắp nước . Sĩ Danh không ra làm quan cũng không thi hội , vui cảnh thanh đạm không ganh tỵ với ai , ở trong thôn ông khuyên giải mọi người không nên tranh tụng lẫn nhau, trong gia đình thì nghiêm mà giản dị , không bàn chuyện xấu của ai , cho nên mọi người trong xóm ngoài làng đều mến phục ông . Hồ Sĩ Danh sinh được năm người con trai đều trúng khoa bảng :Hồ Sĩ Dược (con trưởng) đậu hương cống , Hồ Sĩ Đống đậu song nguyên hoàng giáp , Hồ Sĩ Thích thi hội trúng tam trường (phó bảng) , Hồ Sĩ Trù đậu sinh đồ (tú tài), Hồ Sĩ Hữu đậu khoa “Liệu Sự Khả” Nguyên Gia Long (đậu khoa này được bổ nhiệm tri huyện ).

Hồ Sĩ Đống sớm thông minh , 12 tuổi đã thông văn bài , 15 tuổi đậu sinh ____ , 24 tuổi đậu hương cống . Năm Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng thứ mười ba , Sĩ Đống đậu hội nguyên và đình nguyên (hoàng giáp) khoa này không có tam khôi . Vua ban cờ biển song nguyên vinh qui bổ nhiệm chức Hàn lập Hiệu lý và cấp liêm điền hơn mười lăm mẫu; Sĩ Đống đã hiểu dân làng Quỳnh Đôi số ruộng đó làm học điền và binh điền .

Năm Nhâm Ngọ (1774) ông được thăng chức Thừa Chánh sứ Kinh Bắc , sau tám tháng chúa Trịnh triệu về làm Thiên sai Tư binh phiên .

Năm Đinh Dậu , niên hiệu Cảnh Hưng thứ 38 (1777) Hồ Sĩ Đống được cử lãm phó sứ cùng với Chánh sứ hoàng giáp Vũ Trần Thiệu đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc) . Trước ngày lên đường chúa Trịnh Sâm triệu Vũ Trần Thiệu vào phủ liêu cho xem tờ biểu đại ý :”Nhà Lê không còn con cháu nào là người hiền tài xứng đáng để nối ngôi trị nước , họ Trịnh xin thay thế nhận phong vương .” Trịnh Sâm căn dặn :” ông sang cố tìm cách tâu xin cho bằng được , ta sẽ cho người đi xem để tìm cách giúp đỡ quà cáp .” Vũ Trần Thiệu cầm tờ biểu ra về lòng băn khoăn khôn xiết . Tháng sáu năm đó (1777) đoàn sứ bộ đến hồ Động Đình . Một tối trăng sáng chánh sứ Vũ Trần Thiệu mời phó sứ Hồ Sĩ Đống sang thuyền mình uống rượu, ngắm trăng , làm thơ . Đêm đã khuya , Vũ Trần Thiệu cho người hầu cận đi ngủ , rồi lấy tờ mật biểu của Trịnh Sâm đưa cho Sĩ Đống xem . Hồ Sĩ Đống xem xong hỏi : “Quan Chánh sứ liệu thế nào bây giờ ?” Vũ Trần Thiệu nói :”Đại trượng phu ở đời chỉ đem cái chết để đổi nợ nước mà thôi . Tất nhiên tôi không đưa tờ biểu này . Nhưng như vậy có nghĩa là tôi phải vĩnh biệt ông ở đây . Sau này về nước xin ông giữ kín cho . Người của Chúa ở ngay bên cạnh ông đấy.” Nói xong Vũ Trần Thiệu châm ngọn lửa đốt tờ mật biểu, ném tàn xuống hồ và cho một thứ thuốc bột vào chén rượu uống một hơ . Sau đó, ông giục Hồ Sĩ Đống về thuyền riêng nghỉ ngơi . Sáng hôm sau có tin Chánh sứ Vũ Trần Thiệu bị bạo bệnh chết , Hồ Sĩ Đống tạm thay đưa đoàn đi Yên Ninh . Câu chuyện này chỉ sau khi Trịnh Sâm, Trịnh Cán , Trịnh Tông chết ít lâu thì nhân dân Thăng Long mới được biết , mọi người đều thương tiếc Vũ Trần Thiệu .

Sau khi đi sứ về, xét công lao của Hồ Sĩ Đống được thăng Thị lang bộ Hộ tức Dao Đình hầu , sau đổi là Ban Đình hầu .

Năm Tân Sửu (1781), khoa thi hội Sĩ Đống làm Chánh giám khảo , em ruột ông là Hồ Sĩ Thích dự thi, văn bài được các ông phó giám khảo xếp loại ưu . ông đang xem xét thì có người đứng cạnh nói là bài của em ông. Sĩ Đống nói ngay :”Nhà vua đặt ra khoa cử cốt lấy sự công bằng để chọn nhân tài , không thể làm ơn riêng cho ai được .” Nói đoạn, ông xem lại bài của Sĩ Thích vạch ra những câu văn yếu . Sau đó về nhà ông nói với Em :”Bài chú các quan giám khảo lấy vào loại nhất nhưng anh thấy việc chương chưa chín . Anh làm Chánh giám khảo lấy quyển em đậu cao e thích hạ dị nghị . Chú cần luyện tập thêm , nếu có thực tài khoa này không đậu , khoa sau sẽ đậu . Khoa đó Sĩ Thích chỉ trúng tam trường (phó bảng).

Năm Nhâm Dần (1782) Thanh Nghệ kiêu hoạnh làm càn ở kinh đô , triều đình lo sợ . Hồ Sĩ Đống được cử đi phủ dụ , rất có hiệu quả , quân lính nghe lời ông , nhân dân một lòng tin cậy ông . Từ đó Hồ Sĩ Đống chuyển sang hàm quan võ Đô Chỉ huy sứ kiêm Bồi tụng Chánh sự Phủ đường .

Tháng giêng năm Qúi Mão (1783) thân phụ ông là giám sinh Hồ Sĩ Danh mất , ông xin nghỉ việc quan , đợi hết tang sẽ đến kinh . Nhà vua không cho vì việc nước rất bộn bề . Tháng mười một năm đó ông phải trở lại đô nhận chức cũ Đô Chỉ huy sứ kiêm Bồi tụng phủ sự cùng ông Hành Tham tụng Hoàng giáp Bùi Huy Bích xử trí mọi việc có phương pháp , dần dần ổn định được tình hình kinh đô . Hồ Sĩ Đống được ban chức Tham Đốc kiêm Ngự sử đài Đô ngự sử Bồi tụng , tước Ban Quận công .

Năm ất Tị (1785) tháng bảy , Bồi tụng Hồ Sĩ Đống bị bệnh không đi chầu được , nhà vua sai thầy thuốc đến thăm bệnh và thuốc thang cho ông . Có việc hệ trọng , nhà vua viết thư hỏi ý kiến ông . Trong thời gian lâm bệnh , ông vẫn ngày đêm lưu tâm lo việc nước . Lúc sắp mất ông bảo những người cùng làm việc dưới quyền rằng :” Tôi bình sinh không oán thán sự gì , duy chỉ việc tận Đoan Nam vương Trịnh Khải không phải chính là ý tôi , do lực lượng quán sĩ bó buộc mà phải lập , e ngày sau người đời bàn tán , chỉ có việc ấy làm cho tôi oán thán mà thôi !”

Ngày 10 tháng 10 năm ất Tị (1785) Bồi tụng Hồ Sĩ Đống mất , lúc đó mới 47 tuổi , được truy tặng Binh bộ Thượng thư . Nhân dân xa gần nghe tin , mến thương ông đều khóc . Xét thấy nhà cửa ông thanh bạch , không có của cải gì , nhà vua ban cho hai tấm đoạn, mười ba nén bạc, truyền cho ba đạo thủy binh Sơn Nam, Thanh Hoá, Nghệ An hộ tống quan tài về an táng ở quê nhà 9thôn Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An ) .

Sáng tác của Song nguyên Bồi tụng ,Ban Quận Công Hồ Sĩ Đống còn lại hầu hết là thơ đi sứ tập hợp được hơn trăm bài , đặt tên là “ Hoa trình khiển hứng” . Về sau tập thơ này còn gọi là “Dao đình thi tập “hay “Dao đình sứ tập” .Thơ đều viết bằng chữ Hán ,đề tài thường là đề vịnh di tích nhân vật lịch sử, phong cảnh, danh thắng dọc đường . Từ điển văn học viết :”Thơ thiên nhiên của ông , đặc biệt những bài miêu tả cảnh vật đất nước , từ “Nhị hà chu trung “ đến “Nam quan văn độ” bút pháp vừa hoành tráng vừa mỹ lệ, tình điệu thì hùng hồn phóng khoáng. Tinh thần tự hào dân tộc, trách nhiệm với vua với nước tình cảm Tổ quốc gia hương …bộc lộ trong tác phẩm. Thơ đi sứ của Hồ Sĩ Đống thường có những nét tươi đẹp , uyển chuyển do khả năng đổi mới của cảm xúc và cách thể hiện độc đáo của nhà thơ . Cùng với thơ đi sứ của Phùng Khắc Khoan , Nguyễn Đăng, Nguyễn Kiều , Nguyễn Tông Khuê , Lê Qúi Đôn … Thơ Hồ Sĩ Đống góp phần tạo nên thế cách trầm hùng , nhuần nhã của thơ đi sứ thời Lê Trung Hưng .

Hồ XUâN HươNG

Thân sinh của Hồ Xuân Hương là Hồ Phi Diễn , dòng dõi gia đình khoa bảng thế phiệt thuộc chi thứ hai họ Hồ ở Quỳnh Đôi.Hồ Phi Diễn là con trưởng Hồ Phi Gia (đậu phó bảng năm 25 tuổi , khoa quí vị –1703, niên hiệu Chính Hoà thứ 24 ). ông nội Hồ Phi Diễn là Hồ Phi Cơ , đậu phó bảng (thi hội trúng tam trường năm 27 tuổi khoa Canh Thân – 1680, niên hiệu Chánh Hòa thứ nhất ). Anh cả Hồ Phi Cơ là Hồ Thế Viêm sinh đồ năm 22 tuổi , Em ruột Hồ Phi Cơ là hoàng giáp Bồi tụng Quỳnh Quận công Hồ Phi Tích (1665-1734).

Hồ Phi Diễn đậu sinh đồ (tú tài) năm 20 tuổi khoa Qúi Mão niên hiệu Bảo Thái thứ tư –1723, đời vua Lê Dụ Tông ). Hồ Phi Diễn dạy học kiếm sống ở vùng Hải Dương và Bắc Ninh cũ , lấy một cô gái họ Hà làm vợ lẽ sinh ra Hồ Xuân Hương . Trong tuổi thiếu niên , khi cha còn sống , Hồ Xuân Hương cũng được theo ngòi bút nghiên ít nhiều. Sau khi sanh Hồ Xuân Hương gia đình thầy đồ Diễn có một thời sống ở phường Khán Xuân , huyện Vĩnh Thuận gần Hồ Tây thuộc kinh đô Thăng Long , sau dọn về ở thôn Tiên Thị tổng Tiên Túc huyện Thọ Xương (nay là phố Lý Quốc Sư , Hà Nội), Hồ Xuân Hương có một ngôi nhà lấy tên là “ Cổ nguyệt đường”.

Hồ Xuân Hương thông minh , tài hoa có nhiều bạn trai nhưng cuộc đời tình duyên lại hết sức éo le , ngang trái . Lấy chồng hai lần cả hai lần đều làm lẽ . Căn cứ số thơ Xuân Hương để lại , một nét khá nổi bật mà chúng ta biết được là nhà thơ đi rất nhiều lần theo dấu chân của Hồ Xuân Hương khi ở động Hương Tích , khi ở núi Oõng Chồng Bà Chồng , đèo Ba Dội… Chúng ta có thể hình dung ra cuộc du lãm của nữ sĩ trải qua nhiều tỉnh bao gồm cả đồng bằng lẫn miền núi như Hà Đông ,Ninh Bình , Thanh Hoá, Tuyên Quang , Sơn Lai…Đây chưa kể Nghệ An quê cha và Bắc Ninh quê mẹ . Một con người đi nhiều, người ấy lại là phụ nữ , điều ấy quả là hiếm thấy trong xã hội phong kiến .

Vốn thông minh và nhạy cảm , Hồ Xuân Hương đã nhận ra được sự bất công ngay trái trong xã hội phong kiến , đặc biệt là số phận đau khổ của người phụ nữ trong biết bao cảnh ngộ . Đả kích sâu cay bọn học trò vô tích sự , bọn thầy tu hổ mang , bọn hiền nhân quân tử giả dối , nhưng bà lại nhân hậu biết bao với những phụ nữ đáng thương trong xã hội đó .

Dưới ngòi bút của nữ sĩ , người phụ nữ rất đẹp về hình thức (Thếu nữ) , thông minh trong thơ xướng (Mắng học trò dốt), độ lượng trong tình Cảnh éo le (Không chồng mà chửa). Thể nghiệm bằng nước mắt , mồ hôi của chính cuộc đời mình , thơ Hồ Xuân Hương vừa sâu sắc vừa độc đáo đề cập những nỗi khổ của người phụ nữ mà không một nhà thơ đương thời nào nhận ra được (Làm lẽ) .

Học rộng nhưng lại hết sức gần gũi với quần chúng, nên thơ Hồ Xuân Hương là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa văn học bác học và văn học bình dân . Sống hết lòng với những cảm xúc mảnh liệt nên Hồ Xuân Hương luôn luôn tìm kiếm , sử dụng những từ ngữ sống động , gợi cảm trong thơ bà . Chính vì vậy bà đã tạo được một phong cách rất Hồ Xuân Hương .

Hồ Xuân Hương sáng tác theo thể thơ Đường luật , nhưng được dân tộc hóa cao độ . Bà có nhữ thành công đáng kể trong việc cố gắng đưa cuộc sống trần tục hàng ngày vào một thể thơ vốn đài các quí phái . Bà lợi dụng triệt để kết cấu chặt chẽ của bài thơ Đường luật với những câu đối nhau để cấu tạo những mâu thuẫn có tính chất trào phúng trong những bài thơ châm biếm đả kích . Đặc biệt về phương diện ngôn ngữ , Hồ Xuân Hương đã có những sáng tạo và thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ hàng ngày để sáng tác thơ , trong việc học tập ca dao, tục ngữ , thành ngữ . Hồ Xuân Hương đã khai thác triệt để khả năng tu từ phong phú của ngôn ngữ dân tộc và đã mài sắc ngôn ngữ dân tộc của thời đại mình . Hồ Xuân Hương thật xứng đáng là “ Bà Chúa thơ nôm” mà các nhà thơ Việt Nam vào cuối thế kỷ XX đã ca ngợi .

Gần đây đã phát hiện ra nhiều thơ chữ Hán và tập “Lưu Hương ký”của Hồ Xuân Hương do Nham Gíac phu họ Phan , người cùng quận với nữ sĩ đề tựa vào tháng ba năm Gíap Tuất (1814). Trong bài tựa Nham Gíac phu viết :”Cô là con gái ông lớn Hồ đậu hoàng giáp người xã Hoàng Hậu huyện Quỳnh Lưu (chỉ song nguyên Hồ Sĩ Đống ),…học rộng mà thuần thục dùng chữ ít mà đầy đủ , từ mới lạ mà đẹp đẽ , thơ đúng phép mà văn hoa , thực là một bậc nữ tài”. Tập “ Lưu Hương ký” đầu đề ghi :” Hoan trung Cổ Nguyệt đường Xuân Hương nữ sĩ tập “ nghĩa là tập sách của nữ sĩ Hồ Xuân Hương người Châu Hoan (tức tỉnh Nghệ An) . Trong tập này nữ sĩ viết về tình cảm và tâm sự của mình đối với những bạn trai như các ông Tốn Phong Thị , ông Hiệp Trấn ,Sơn Nam thượng họ Trần , ông Sơn Phủ , ông Chí Hiên và ông Cần chánh học sĩ Nguyễn Du(tác giả Truyện Kiều).

Hồ Xuân Hương để lại các tác phẩm sau đây :

– Tập thơ nôm Hồ Xuân Hương

– Lưu Hương ký

– Đồ Sơn bát vịnh (tên sách ghi trong thư mục Huế , đời Tự Đức triều Nguyễn ).

Hồ Sĩ TUầN (1813-1862)

Hồ Sĩ Tuần sinh năm 1813, con thứ sinh đồ Hồ Sĩ Hơn , ông nội là hương cống (cử nhân) Hồ Sĩ Vũ , một gia đình nho học thuộc chi thứ ba họ Hồ ở Quỳnh Đôi . Anh cả ông là tú tài Hồ Sĩ Cát , bác ruột ông là hương cống Sĩ Nguyện .

Năm Minh Mênh thứ tám (1837) triều Nguyễn , Sĩ Tuần thi hương đậu ngay cử nhân . Năm Thiệu Trị thứ tư (1844) , thi đình ông đậu tiến sĩ (đứng thứ tư) .Oõng được cử làm Hàn lâm viện biện tú, rồi tri phủ Qủang Yên(nay là huyện Qủang Trạch), thăng Lạc bộ Viên ngoại lang , Hàn lâm viện Thi độc học sĩ , sáng Quốc tử giám Biên tu (ông là một trong sáu vị Toản tu bộ Viết sử Thông giám cương mục) , Hiệp lý Bộ Thông chánh phó sứ .

Dưới triều Nguyễn đây là thời kỳ đất nước bắt đầu rối ren cao độ . Sáng ngày 31 tháng 8 năm ặ8 , tiếng súng gây hấn của thuỷ quân Pháp bắt đầu nổ ở Đà Nẵng , chính thức mở màn cho cuộc chiến tranh xâm lược nước ta của thực dân Pháp . Tháng sáu năm 1859 , niên hiệu Tự Đức thứ 12 , hội nghị các triều thần bàn về phương lược chống giặc Pháp . Viện Cơ Mật và các quan đại thần đều có ý kiến chủ hoà với xâm lược Pháp bao trùm khắp triều đình .Riêng một số ít quan lại cấp Nha trong đó có Hồ Sĩ Tuần chủ trương “quyết tâm giữ đất , tấn công giặc ,quyết không nghị hoà với giặc .” Họ đã làm tờ biểu dâng lên nàh vua trình bày rõ kế hoạch chiến đấu của từng địa phương để thực hiện ý định kiên quyết bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc . Do đó tiến sĩ Hồ Sĩ Tuần phải đổi đi làm Tuần phủ Qủang Yên , nơi hải tần xa xôi , khó khăn , trong địa phương có một số thôn nhân dân theo Thiên chúa giáo .

Sau khi nhận chức , tuần phủ Hồ Sĩ Tuần đã quan tâm đến việc sản xuất và đời sống của nhân dân cũng như vấn đề đoàn kết lương giáo và trật tự trị an địa phương nên được nhân dân quí trọng , kính mến . Nhờ vậy nên nhân dân lương giáo không xảy ra xô xát lẫn nhau mà cùng quyết tâm hợp lực với quan quân đánh tan bọn giặc biển vào cướp phá Qủang Yên .

Tháng 5 năm Tự Đức thứ 15 (1862) , nhà vua ký hàng ước Nhâm Tuất cắt ba tỉnh phía đông Nam bộ cho thực dân Pháp .Tiến sĩ Hồ Sĩ Tuần được tin uất hận phát bệnh , ba tháng sau thì mất . Triều đình truy tặng ông chức Gia nghị Đại phu Tự tri khanh Bộ Chánh sứ . Nhân dân Qủang Yên lập đền thờ ông và quyên góp được một trăm lạng bạc gửi về xây dựng nhà thờ ở quê hương Quỳnh Đôi .

Nhân dân Quỳnh Đôi đã phúng viếng tiến sĩ Hồ Sĩ Tuần đôi câu đối sau đây :” Du hoạn biệt lân bằng , khứ tuế trùng canh tam điệp khúc ; Quân tử trọng triều quận , bách niên di hận nhất hoà thư .” Nghĩa là Người làm quan xa bạn làng , năm trước vui vầy cuộc gặp gỡ ; Bậc quân tử vì triều quận , trăm năm còn giận một hoà thư .

Hồ TRọNG ĐĩNH (1820-1882)

Hồ Trọng Đĩnh là con tú tài Hồ Trọng Cảnh (ba lần thi hương đều chỉ đậu tú tài ) , thuộc chi thứ năm họ Hồ ở Quỳnh Đôi . Nhà nghèo Trọng Đĩnh quyết chí học tập . Năm Bính Ngọ niên hiệu Thiệu Trị thứ sáu (1846) ân khoa , Trọng Đĩnh đậu tú tài . Năm sau khoa Đinh Mùi (1847) , ông dự thi đậu cử nhân .

Trọng Đĩnh học vấn sâu rộng , không những trau dồi văn chương mà thông hiểu nghĩa lý tinh vi và giỏi vận dụng vào đời sống xã hội . Bước đầu ông nhận chức Kinh lịch tỉnh Ninh Bình , rồi làm tri huyện Kim Sơn và Yên Khánh , thăng tri phủ Kiến Tường (tỉnh Định Tường , Nam Bộ).Năm canh thân (1860) niên hiệu Tự Đức thứ 13 , ông được điều về kinh đô Huế thăng chức Phủ Doãn tỉnh Thừa Thiên .

Năm Qúi Hợi (1863) niên hiệu Tự Đức thứ 16 , thân mẫu mất , Hồ Trọng Đĩnh cáo quan về để tang . Chưa mãn tang , vua triệu ông ra sung chức Chánh sứ Hà Nội , rồi Chánh sứ Hải Phòng kiêm Qủan Thương Chính hàm Quang lộc tự khanh . Năm Mậu Thìn (1868) Hồ Trọng Đĩnh làm Tán lý quân vụ các đạo Lạng Sơn và Thái Nguyên góp phần dẹp yên giặc cướp đem lại an ninh cho nhân dân . Sau đó ông được thăng Tuần phủ Qủang Yên . ở Qủang Yên những nơi biên biên hiểm yếu ,ông vận động nhân dân đắp lũy xây đồn , tuyển thêm dân binh để tăng cường lực lượng phòng thủ đất nước . Bọn giặc biển lợi dụng tình hình Việt Namgặp khó khăn tiến công thành Qủang Yên . Tuần phủ Hồ Trọng Đĩnh đã động viên quân lính và nhân dân giữ vững thành , mưu trí đánh tan bọn giặc . Qua tám năm làm tuần phủ Qủang Yên ông đã khéo tổ chức quản lý trật tự trị an , giúp cho nhân dân yên ổn làm ăn , người người trong xứ ca ngợi công đức ông .

Với công lao cở Qủang Yên , Hồ Trọng Đĩnh được triệu về kinh yết kiến nhà vua , thăng Lại bộ Tham Tri kiêm chức Ngự sử . Khi đại sứ nước Pháp đến , ông được cử ra đối tiếp , công việc trôi chảy vua khen và ông được thăng Thượng thư bộ Công kiêm chức Đô Sát viện .

Mùa thu năm Tân Tỵ (1881) ông bị bệnh cáo quan về nhà điều trị , nhưng bệnh ngày càng trầm trọng , ông dâng sớ xin hưu trí . Chiếu vua chưa ban ra thì ngày 25 tháng 4 năm Nhâm Ngọ (1882) niên hiệu Tự Đức 35 ông mất . Tính nết Thượng thư Hồ Trọng Đĩnh hòa nhã , nghiêm nghị , ngay thẳng và độ lượng . Mọi người đều mến phục ông và không ai dám cầu cạnh việc riêng .Oõng khuyên các con rằng :”Lương bổng của ta có thừa thì giúp đỡ người nghèo khó , còn bao nhiêu mua sách cho con cháu học để đời đời làm nên sự nghệp vì dân vì nước .”Hồ Trọng Đĩnh làm quan trong thời kỳ đất nước phải đối phó với giặc ngoại xâm , nhiệm vụ nặng nề , công việc bận rộn , nhưng tranh thủ những giờ phút nghỉ ngơi ít ỏi , ông đã để lại cho đời tác phẩm “Công hạ thi thảo”.

Hồ Bá ôN (1842-1883)

Hồ Bá Oõn sinh năm 1842 trong gia đình khoa bảng thuộc thứ năm họ Hồ ở Quỳnh Đôi , ông nội là phó bảng Hồ Trọng Điển (Đốc học Nghệ An) , cha là cử nhân Hồ Trọng Tuấn (Đốc học Nghệ An và Aựn sát Thái Nguyên ), mẹ là Phạm Thị Khanh ( con cả Đốc học Phạm Đình Trọng , người cùng làng). Hưu trí , cử nhân Hồ Trọng Tuấn về quê bàn với dân làng lập “ quỹ nghĩa sương “ để cho dân nghèo vay khi mất mùa đói kém hay gia đình gặp khó khăn . Hồ Bá Oõn tuổi trẻ thông minh , tự học là chính . Năm mậu thìn , niên hiệu Tự Đức thứ 21 (1868) , ân khoa , Hồ Bá Oõn đậu tú tài , khoa canh ngọ (1870) đậu cử nhân ; khoa Aỏt Hợi niên hiệu Tự Đức thứ 28 (1875) Hồ Bá Oõn đậu phó bảng đứng thứ hai (theo Quỳnh Đôi Hồ tộc khoa danh trường biên ).

Bước đầu Hồ Bá Oõn nhận chức Hàn lâm biên tu ; sau làm tri huyện thừa chỉ , thăng án sát tỉnh Nam Định (1881) . Đó là thời kỳ nước ta đang bị thưc dân Pháp xâm lược .

Sau mười năm quân Pháp đánh chiếm Nam Định lần thứ nhất (Qúi Dậu – 1873) , cuối tháng 3 năm 1883 chúng tiến công thành Nam Định lần thứ hai . Tám giờ sáng ngày 26 tháng 3 năm 1883 chỉ huy quân Pháp Hăng-ri Ri-vi-e (Henri Riviere) gửi tối hậu thư cho tổng đốc Vũ Trọng Bình buộc phải nộp thành đầu hàng . Các quan đầu tỉnh họp gồm có tổng đốc Vũ Trọng Bình , bố chánh Đồng Sĩ Vĩnh , án sát Hồ Bá Oõn và đề đốc Lê Văn Điếm , ý kiến trái ngược nhau . Vũ Trọng Bình và Đồng Sĩ Vĩnh chủ hoà , Hồ Bá Oõn và Lê Văn Điếm quyết đánh .Trước tinh thần kiên quyết của Hồ Bá Oõn và Lê Văn Điếm , cuối cùng thống nhất là giặc đến thì phải đánh . Trước hết viết thư trả lời giặc , đại ý “ Chúng tôi phải đợi lệnh triều đình” , đồng thời kêu gọi nhân dân tổ chức lực lượng tham gia chiến đấu giữ thành . Lê Văn Điếm và Hồ Bá Oõn nhận nhiệm vụ chỉ huy binh sĩ ra ngoài thành chống địch . Tổng đốc và bố chánh lo việc tiếp tế súng đạn lương thực cho lực lượng chiến đấu .

Sáng ngày 27 tháng 3 , Ri-vi-e nổ súng tiến công thành . Đến trưa giặc Pháp phá được cửa đông thành , đề đốc Lê Văn Điếm hy sinh tại chiến trận , án sát Hồ Bá Oõn bị trọng thương được binh sĩ đưa về phía sau rồi chuyển về quê nhà cứu chữa . Nhưng vết thương quá nặng , Hồ Bá Oõn mất ngày 19 tháng 4 năm 1883 ( tức ngày 23 tháng 3 năm Qúi Mùi) . Trước khi chết ông căn dặn con cháu , phải hết lòng yêu nước , nhớ trả nợ nước thù nhà .

Vua Tự Đức gửi bài chế văn truy niệõm ông , trong có câu :”Bách luyện chi cường tráng, thượng cương chiếu thử ; Thiên thu chi thanh hàn , tương tử lưu phương .” Nghĩa là “lòng gang thép trăm năm tôi luyện ánh sánh rọi từ đây ; trang sử xanh nghìn thu còn ghi tiếng thơm lưu truyền mãi .”

Hồ PHI HUYềN (1879-1945)

Hồ Phi Huyền còn có tên là Hồ Phi Thống , sinh năm 1879 , thuộc chi thứ hai dòng họ Hồ ở Quỳnh Đôi , con cử nhân Hồ Phi Tự , cháu sáu đời hoàng giáp Quýnh Quận công Hồ Phi Tích , một gia đình khoa bảng nhiều đời kế tiếp nhau có tên ghi trong bảng vàng những kỳ thi hương , thi hội , thi đình .

Niên hiệu Thành Thái thứ 12 (1900) , Hồ Phi Thuyền 21 tuổi dự thi hương đậu cử nhân đứng thứ hai ( á nguyên) cùng khoa với giải nguyên Phan Bộ Châu . Để biểu hiện khí tiết nhà nho biết tự trọng , cử nhân Hồ Phi Thuyền không tham dự quan trường của chính quyền thực dân Pháp . Oõng dạy học và làm thuốc chữa bệnh giúp nhân dân , đồng thời tham gia hoạt động trong phong trào Duy Tân (1904) , phong trào Đông Du (1905) và Việt Nam Quang Phục hội do giải nguyên Phan Bội Châu tổ chức (1912) . Thật là :

“Lập thân mạc tế cương thường trọng ,

Xử thế vô vi phú quí dâm .”

(Tửu hứng – Tiến sĩ Nguyễn Xuân Oõn)

Nghĩa là : Lập thân phải trọng đạo cương thường ,

Xử thế đừng say mùi phú quý ,

Cử nhân Hồ Phi Thuyền dạy học ở huyện Thanh Chương (Nghệ An) học trò theo học rất đông , nhiều người nối chí thầy đã tham gia phong trào giải phóng dân tộc sau này . Một trong những học trò xuất sắc là Đặng Thái Mai đã trở thành con rể của thầy . Ngoài ra Phi Thuyền đã viết sách “ Y học toát yếu” và “ Nhân đạo quiyền hành” ( nghĩa là chuẩn mực của đạo làm người ).

“Nhân đạo quyền hành “ là một tác phẩm triết học , cử nhân Hồ Phi Thuyền viết bằng chữ Hán , sau ông dịch ra chữ quốc ngữ và đăng ở tuần báo Thanh Nghệ Tĩnh (1935), in thành sách xuất bản năm 1936 (nhà in Vương Đình Châu – Vinh) lưu trữ tại thư viện triều Nguyễn Bác Đạùi ở Huế . Lời tựa sách”Nhân đạo quyền hành “ (bản dịch) dưới đây đã nói lên những suy tư của ông khi viết cuốn sách đó :

“Loài người ở rải rác khắp mặt địa cầu đã bao nhiêu đời , đến bây giờ mới được giao thông tiếp xúc với nhau . Nào học thuật , nào chánh tục của phương đông , phương tây đều lộn xộn bày ra trước mắt những điều lạ điều hay có ích cho đạo người không ít , mà những điều thiên (lệch) điều dở có hại cho đạo người cũng nhiều . Người ta sinh ra ở trên đời bây giờ cũng như đứng trước khúc đường nhiều ngả , nhiều khi không biết lối nào là phải mà đi . Tôi đây từ trẻ đến giờ vẫn tuân theo lời dạy “ nhiều nghe mà chịu khuyết điểm ngờ , nhiều thấy mà chịu khuyết điểm nguy “ của đức Khổng Tử , nên tuổi đã đến tuần tri mệnh ( tức tuổi 50) mà sự ngôn luận và hành vi không dám điều gì là đoán ý cả . Trải mấy mươi năm nghiên cứu , có lúc sức không chịu nổi phát ra bệnh cuồng . Trong lúc phát cuồng bỗng chốc giác ngộ toang ra như hình có ai mở thông thần trí cho mình , mới ghi thuật lại mà làm thành sách này . Bản Hán văn đóng thành , lại dịch ra quốc văn , kiếm cách công hành ra để chất chính cùng các bậc quân tử trong đời , mong rằng chỗ nào vừa đúng được các ngài tán thành cho , chỗ nào sai lầm được các ngài sửa chánh lại , khiến quyển sách này đối với đạo người cũng có vài phần bổ ích thì may mắn biết chừng nào .”

Hồ HọC LãM (1883-1943)

Hồ Học Lãm sinh năm 1883 , gọi là Hồ Xuân Lan , con thứ hai Hồ Bá Trị ( Em ruột phó bảng Hồ Bá Oõn ) va 2Trần Thị Trâm . Năm Xuân Lan chào đời chính là năm bác Hồ Bá Oõn hy sinh trong chiến đấu bảo vệ Thành Nam Định và cũng là năm thực dân Pháp bắt đầu đặt nền thống trị trên đất nước ta ( theo hiệp ước ngày 25 tháng 8 năm 1883) .

Ngày 18 tháng 11 năm Aỏt Dậu (24-12-1885) bọn phản động Thiên chúa giáo , tay sai thực dân Pháp ,gây cuộc biến loạn ở Quỳnh Đôi , đổi nhà cướp của giết người . Hồ Bá Trị là một trong những người lãnh đạo cuộc chiến đấu bảo vệ làng , ông đã bị giết hại để lại người vợ trẻ 28 tuổi và hai con thơ là Hồ Xuân Kiêm 4 tuổi và Hồ Xuân Lan 2 tuổi . Với tình yêu thương chồng khôn xiết kể , lại sống trong gia đình thế phiệt yêu nước , được sự giới thiệu của Hồ Bá Kiện ( con của anh chồng ) và văn thần Quỳnh Đôi , Trần Thị Trâm đã tham gia nghĩa quân cần vương của Phan Đình Phùng . Làng Quỳnh Đôi có nghề dệt lụa , Trần Thị Trâm đóng vai người bán lụa mua tơ để dễ hoạt động , được mọi người gọi là Bà Lụa . Phan Đình Phùng đã giao cho bà Trần Thị Trâm sang Xiêm (Thái Lan) mua súng đạn theo đường xuyên qua đất Lào . Từ năm 1905 Trần Thị Trâm tham gia phong trào Đông Du do Phan Bội Châu đề xướng . Bà vận động quyên góp tiền và dẫn đường cho học sinh Việt Nam qua Trung Quốc sang Nhật Bản , trong đó có con bà là Hồ Xuân Lan (lớp đầu tiên của phong trào Đông Du ). Đến Nhật Bàn Hồ Xuân Lan đổi tên l à Hồ Học Lãm vào học trường quân sự cao cấp Trấn Vũ ở Đông Kinh . Năm 1908 , chính phủ Nhật cấu kết với thực dân Pháp ra lệnh trục xuất tất cả du học sinh Việt Nam . Hồ Học Lãm về Trung Quốc và học trường quân sự Bảo Định . Học Lãm miệt mài học tập với tinh thần yêu nước trở thành một học sinh giỏi toàn diện kể cả ngoại ngữ .

Năm Tân Hợi (1911) , cách mạng Trung Quốc bùng nổ , do Tôn Trung Sơn ( Tôn Dật Tiên) lãnh đạo . Cùng năm đó Hồ Học Lãm tốt nghiệp ra trường . Năm 1912 Phan Bội Châu thành lập Việt Nam Quang Phục hội . Để giúp những người Việt Nam yêu nước hoạt động cần phải đặt cơ sở Hội ở Trung Quốc . Xét thấy Hồ Học Lãm là người có nhiều khả năng thuận lợi có thê gánh vác được trách nhiệm đó . Tuân theo quyết định của Hội , Hồ Học Lãm phải gia nhập quân đội Trung Quốc để có điều kiện bảo đảm cuộc sống gia đình đồng thời có thế lực vật chất để làm nhiệm vụ đối với cách mạng Việt Nam . Sau những năm chỉ huy chiến đấu góp phần tiễu trừ bọn quân phiệt cát cứ, Hồ Học Lãm được chuyển về công tác ở cục tác chiến bộ Tổng Tham mưu quân độ Trung Quốc và tham gia giảng dạy trường quân sự Hoàng Phố . Tuy là người Việt Nam nhưng do tài năng và đức độ nên Hồ Học Lãm rất có uy tín trong hàng ngũ tướng tá của Bộ Tổng Tham mưu . Khi Phan Bội Châu còn ở Trung Quốc , Hồ Học Lãm và vợ là Ngô Khôn Duy ( con của chí sĩ Ngô Qủang – một kiện tướng của Phan Đình Phùng ) hết lòng vì sự nghiệp cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc và giành độc lập cho Tổ Quốc . Trong ba mươi năm , dù di chuyển đi đâu gia đình Hồ Học Lãm vẫn là nơi nương tựa và liên lạc cho đông đảo những người cách mạng Việt Nam hoạt động ở Trung Quốc .

Cuối năm 1924 , ông Nguyễn Aựi Quốc từ Liên Xô đến Trung Quốc đã tìm gặp Hồ Học Lãm để bàn công việc và đặt kế hoạch liên lạc . Năm 1939 , chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ , Nam Kinh rơi vào tay quân phiệt Nhật . Chính phủ Trung Hoa dân quốc rút chạy vào Trùng Khánh ( tỉnh Tứ Xuyên ) , Hồ Học Lãm cũng đi theo . Được ít lâu , ông bị đau phải vào bệnh viện điều trị , khoảng táhng 10 năm 1940 Hồ Học Lãm xin về chữa bệnh ở Quế Lâm ( thủ phủ tỉnh Qủang Tây) cho gần Tổ Quốc . Lúc đó ông Nguyễn Aựi Quốc và một số cán bộ cách mạng Việt Nam cũng đã đến Quế Lâm . Để lấy danh nghĩa hoạt động ở nước ngoài , ông Nguyễn Aựi Quốc đã lập một bộ phận gọi là “ Việt Nma độc lập đồng minh hội hải ngoại “ , cử Hồ Học Lãm làm chủ nhiệm và Lâm Bá Kiệt ( tức Phạm Văn Đồng ) làm phó chủ nhiệm . Tháng 12 năm 1940 , Trung Việt văn hoá hội được thành lập ở Quế Lâm , Hồ Học Lãm và Lâm Bá Kiệt được mời tham gia bán trị sự của hội với tư cách là chủ nhiệm và phó chủ nhiệm biện sự sứ Việt Nam độc lập đồng minh ở hải ngoại . Rất tiếc bệnh tình Hồ Học Lãm ngày càng trầm trọng , tháng 4 năm 1943 ông từ trần thọ 60 tuổi . Trước khi mất ông khuyên vợ và hai con gái là Hồ Diệc Lan và Hồ Mô La nên về nước hoạt động , Bà và hai con đã thực hiện lời căn dặn tận tâm suốt đời vì thắng lợi của cách mạng Việt Nam .

Hồ TùNG MậU (1896-1951)

Hồ Tùng Mậu sinh năm 1896 là con cả Hồ Bá Kiện và Phan Thị Liễu cha mẹ đặt tên là Hồ Bá Cự . Oõng nội Hồ Bá Cự là phó bảng Hồ Bá Oõn . Ngay từ khi còn nhỏ tuổi học chữ Hán , Hồ Bá Cự đã được gia đình giáo dục truyền thống yêu nước và ý chí kiên cường chống thực dân Pháp cứu nước . Sau Hồ Bá Cự được học học quốc ngữ và chữ Pháp .

Khoảng giữa năm 1920 , bà Trần Thị Trâm giới thiệu Hồ Bá Cự cùng một số thanh niên Nghệ Tĩnh sang Xiêm ( Thái Lan ) , rồi từ Xiêm đi Trung Quốc . Hồ Bá Cự lấy tên là Hồ Tùng Mậu . Đến Hàng Châu ( thủ phủ tỉnh Chiết Giang) Hồ Tùng Mậu gặp Hồ Học Lãm . Hai chú cháu gặp nhau kể chuyện gia đình xiết bao mừng tủi . Bước đầu Học Lãm gíup Tùng Mậu học tiếng Trung Quốc , sau đó học tiếng Anh . Cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) do Tôn Trung Sơn lãnh đạo thắng lợi . Từ khi có sự hợp tác của Noa-Hoa ( sau cách mạng tháng Mườ Nga 1917 thành công ) , Qủang Châu ( thủ phủ tỉnh Qủang Đông ) trở thành cái nôi của phong trào cách mạng Trung Quốc có tính chất quần chúng công nông được Hồ Học Lãm khuyên bảo và giới thiệu Hồ Tùng Mậu đến học tập và hoạt động ở Qủang Châu . Tại đây Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn , Phạm Hồng Thái và Lê Hồng Phong đã thành lập tổ chức “ Tâm tâm xã” Sau tiếng bom nổ của Sa Diện của Phạm Hồng Thái ( tháng 6 năm 1924 ) , cuối năm 1924 ông Nguyễn Aựi Quốc đến Qủang Châu với trách nhiệm là uỷ viên Ban Phương Đông của Ban chấp hành Quốc tế cộng sản , tham gia hướng dẫn và xây dựng phong trào cách mạng , phong trào cộng sản các nước Đông Nam Châu á và xúc tiến việc chuẩn bị thành lập Đảng cộng sản ở Việt Nam . Oõng Nguyễn Aựi Quốc đã gặp nhóm “ Tâm tâm xã” gồm có Hồ Tùng Mậu , Lê Hồng Sơn và Lê Hồng Phong . Đầu năm 1925 , ông Nguyễn Aựi Quốc lập ra Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội , trong đó có cộng sản Đoàn là Hồ Tùng Mậu , Lê Hồng Sơn và Lê Hồng Phong . Hội có nhiệm vụ tuyên truyền chủ nghĩa Mác Lênin cho những người Việt Nam yêu nước và phong trào công nâhn chuẩn bị cho chính đảng của giai cấp công nhân ra đời . Từ cuối năm 1925 đến đầu năm 1927 , Hồ Tùng Mậu đã giúp ông Nguyễn Aựi Quốc ra báo THANH NIêN và mở các lớp huấn luyện ở Qủang Châu đào tạo hàng trăm thanh niên Việt Nam từ trong nước sang học rồi trở về nước hoạt động . Các bài giảng của ông Nguyễn Aựi Quốc đã được đăng vào báo THANH NIêN trở thành tài liệu phổ biến lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và giới thiệu những phương hướng cơ bản của cách mạng Việt Nam . Từ tháng 4 năm 1927 , phản bội chính sách “liên Nga dung Cộng ủng hộ công nông “ của Tôn Trung Sơn , Tưởng GíơI Thạch thẳng tay đàn áp đảng cộng sản Trung Quốc . Trong hoàn cảnh đó ông Nguyễn Aựi Quốc phải rời khỏi Qủang Châu đi Liên Xô , Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội chuyển vào hoạt động bí mật .

Trong hai năm 1927 và 1928 Hồ Tùng Mậu bị chính quyền Trung Hoa dân quốc địa phương bắt giam bốn lần , lần thứ tư bị giam giữ lâu nhất . Trước áp lực đấu tranh của nhân dân Trung Quốc và những người Việt Nam yêu nước , Hồ Tùng Mậu mới được thả tự do , nhưng bị trục xuất khỏi Qủang Đông . Cơ quan của Tổng bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội cũng phải chuyển đến Hương Cảng . Tại đây Hồ Tùng Mậu , Lê Duy Điếm , Lê Hồng Sơn quyết định thành lập chi bộ An Nam cộng sản đảng .

Cuối năm 1929 trong nước đã thành lập ba tổ chức cộng sản là Đông Dương cộng sản đảng ở Bắc Kỳ , An Nam cộng sản đảng ở Nam Kỳ và Đông Dương cộng sản liên đoàn ở Trung Kỳ . Hồ Tùng Mậu cử người sang Xiêm ( Thái Lan ) báo cáo với ông Nguyễ Aựi Quốc lúc đó đang hoạt động ở Xiêm . Được tin ông Nguyễ Aựi Quốc đã sang Hương Cảng và triệu tập hội nghị đại biểu các tổ chức Cộng sản để thống nhất đang dự hội nghị này có sáu đại biểu : Đảng cộng sản Đông Dương có Trịnh Đình Cửu va Nguyễn Đức Cảnh ; An Nam cộng sản đảng có Nguyễn Thiệu và Châu Văn Liêm ; Đảng bộ hải ngoại có Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn , hội nghị họp từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930 trong hoàn cảnh bí mật đã nhất trí tán thành thống nhất các tổ chức Cộng sản thành lập đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam , thông qua chính cương , sách lược điều lệ tóm tắt của Đảng và điều lệ tóm tắt của các đoàn thể quần chúng.

Sau hội nghị Hồ Tùng Mậu được phân công đi Hàng Châu , Nam Kinh , Thượng Hải đặt các cơ sở liên lạc và hoạt động của Đảng . Cuối năm 1930 , Hồ Tùng Mậu trở lại Hương Cảng hoạt động . Tháng 4 năm 1931 , Hồ Tùng Mậu bị mật thám Anh bắt giam ; cuối tháng 6 năm 1931 thực dân Anh đưa Hồ Tùng Mậu lên Thượng Hải thả vào khu tô giới Pháp để cho mật thám Pháp bắt đó là ngày 30 tháng 6 năm 1931 . Tháng 7 năm 1931 , mật thám Pháp đưa Hồ Tùng Mậu từ Thượng Hải về Sài Gòn , sau mật thám Đông Dương giao ông cho chính quyền Nam Triều ở Ngệ An xét xử . Lúc đầu chúng kết án tử hình ông , sau giảm xuống khổ sai chung thân .

Hồ Tùng Mậu đã trải qua các nhà lao của thực dân Pháp từ Hỏa Lò Hà Nội , Vinh Lao Bảo đến Kông Tum , Buôn Mê Thuột , Trà Khê . Dù tri\ong cảnh tù đày cực khổ , Hồ Tùng Mậu vẫn nêu cao tấm gương bất khuất , tinh thần lạc quan cách mạng và lòng thương têu đồng chí . Oõng đã cùng anh Em trong tù làm tờ “ Báo miệng “. Hồ Tùng Mậu được cử làm thư ký tòa soạn phân bài cho từng người . Hàng ngày đúng giờ bọn gác ngục nghỉ , từng người leo lên cửa ô vuông của phòng giam đọc bài mình được phân công chuẩn bị . Theo ý kiến mọi người thốnh nhất cốt truyện , Hồ Tùng Mậu chấp bút sáng tác tiểu thuyết “ Gịot máu hồng “ và kể trong giờ “ Báo miệng “ cho các buồng giam nghe . Một số anh Em thuộc “ Gịot máu hồng “ khi chuyển trại giam kể lại cho mọi người nghe đã có tác dụng nâng đỡ tinh thần đấu tranh trong cảnh lao tù gian khổ . Ngoài ra một số bài thơ ông sáng tác trong thời gian bị tù đày đã phản ánh tinh thần cách mạng kiên cường của người đảng viên cộng sản .

Ngày 9 tháng 3 năm 1945 , quân phiệt Nhật đảo chính đế quốc Pháp ở Đông Dương . Tại trại an trí Trà Khe ( tỉnh Phú Yên ) , Hồ Tùng Mậu và những người bị giam phân tích tình hình quyết định nắm lấy thời cơ , khi quân Nhật chưa kịp tổ chức lại sự kiểm soát chặt chẽ , tìm cách thoát khỏi trại giam trở về địa phương tiếp tục hoạt động cách mạng .

Hồ Tùng Mậu được huyện Quỳnh Lưu ( Nghệõ An ) cử đi xây dựng cơ sở Việt Minh ở các xã . Khoảng tháng 7 năm 1945 , Xứ ủy Đảng cộng sản Đông Dương Trung Kỳ điều động Hồ Tùng Mậu để chuẩn bị công tác Tổng khởi nghĩa .

Cách mạng Tháng Tám thành công , Hồ Tùng Mậu ra Hà Nội gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh , hai người hết sức xúc động . Với ý thức khiêm tốn cách mạng , Hồ Tùng Mậu tự thấy mình xa thực tế trong nước đã lâu ngày nên xin Hồ Chủ Tịch không nhận chức vụ trọng trách . Hồ Chủ Tịch giao cho ông đảm nhiệm việc tổ chức hệ thống liên lạc giữa uỷ ban nhân dân cách mạng các địa phương từ Bắc chí Nam với Trung ương . Sau đó chính phủ cử Hồ Tùng Mậu làm Gíam Đốc kiêm Chính uỷ trường Quân Chính Trung Bộ tại Nhượng Ban tỉnh Hà Tĩnh . Cuối năm 1946 , dân tộc ta tiến hành cuộc kháng chiến toàn quốc chống đế quốc Pháp xâm lược , Hồ Chủ Tịch thay mặt Đảng và Chính phủ giao cho Hồ Tùng Mậu chức Chủ Tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu IV ( gồm các tỉnh Thanh Hoá , Nghệ An , Hà Tĩnh , Qủang Bình , Qủang Trị , Thừa Thiên ). Đại hội Đảng bộ liên khu IV bầu cử Hồ Tùng Mậu làm Uỷ viên Thường vụ Liên khu uỷ .Oõng đã cùng Bí thư Liên khu uỷ Nguyễn Chí Thanh lãnh đạo đoàn kết nhân dân chiến đấu vượt qua những ngày tháng đầu của cu6ộc kháng chiến đầy khó khăn gian khổ .

Tháng 2 năm 1951 , đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai , Hồ Tùng Mậu trúng cử uỷ viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng , lãnh trách nhiệm Tổng Thanh tra chính phủ và Hội trưởng đầu tiên hội Việt Nma hữu nghị ( tức hội Việt Trung hữu nghị sau này ).

Ngày 23 tháng 7 năm 1951 , trên đường đi công tác vào Liên khu IV đến Thị trấn Cồứng( thuộc huyện Tĩnh Gia , tỉnh Thanh Hóa ) bị máy bay giặc Pháp oanh tạc , Hồ Tùng Mậu bị thương nặng và mất thọ 55 tuổi . Trong thư điếu Chủ Tịch Hồ Chí Minh viết :

“ Chú Mậu ơi ! … Về tình riêng , tôi với chú là đồng chí lại là thân thiết hơn anh em ruột thịt , khi hoạt động ở đất khách quê người , khi bị giam ở lao tù đế quốc , khi đấu tranh ở nước nhà hơn 25 năm đã bao phen chúng ta đồng cam cộng khổ như tay với chân .

…..Mất chú , đồng bào mất một người lãnh đạo tận tuỵ, Chính phủ mất một người lão luyện , Đoàn thể mất một người đồng chí trung thành , và tôi mất một người anh Em chí thiết . Maáây nguồn thương tiếc cộng vào trong lòng tôi . Tôi gạt nước mắt , thay mặt Chính phủ nghiêng mình trước linh hồn chú và truy tặng chú Huân cjương Hồ Chí Minh để nêu cao công lao chú đối với đồng bào , đối với Tổ Quốc . “

Viết xong tháng 9 năm 1990

Sửa chữa lần cuối tháng 12 năm 1992

Hồ Sĩ Tuấn tức Hồ Sĩ Hợp

(thuộc chi thứ ba họ Hồ ở Quỳnh Đôi )

Thư từ góp ý xin gửi đến : Hồ Anh Tuấn 209 C 5 Thị Trấn Nghĩa Tân , Từ Liêm , Hà Nội .

Các gia đình muốn có cuốn sách này mời gặp Anh Hồ Sĩ Bằng số nh2 148 , tổ 40 , thôn Hào Nam , phường ô Chợ Dừa , quận Đống Đa , thành phố Hà Nội .

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *