Nguồn gốc họ thái (gốc Mạc) ở cam lộ Quảng trị

Qua quá trình nghiên cứu một cách thận trọng, cho đến thời điểm này có thể khẳng định được họ Thái làng Cam Lộ nguồn gốc là do từ Mạc Nhân Phủ đổi ra.

Nguồn gốc họ thái ở cam lộ Quảng trị.

Qua nghiên cứu lịch sử Việt Nam; Bảo tàng dân tộc học; Làm việc với bộ môn tâm lý tiềm năng con người (tiếp xúc trực tiếp với các nhà ngoại cảm để nói chuyện với ông cha đã quá cố) và nhất là khi được nghiên cứu “ Hợp biên thế phả họ Mạc ” kết hợp với gia phả họ Thái làng Cam Lộ, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị viết bằng chữ Hán cách đây khoảng 450 năm và đã được dịch ra chữ Quốc ngữ nhưng không rõ nguồn gốc vì gia phả chữ Hán mấy trang đầu không có (Phần nguồn gốc họ tộc) chỉ còn lại dấu tích là “Bộ thảo đầu” của họ Mạc trên đầu chữ Thái.

Qua quá trình nghiên cứu một cách thận trọng, cho đến thời điểm này có thể khẳng định được họ Thái làng Cam Lộ nguồn gốc là do từ Mạc Nhân Phủ đổi ra.

Thái tổ

Nhân Minh Cao Hoàng Đế

Mạc Đăng Dung (1483 – 1541)

Theo “ Hợp biên thế phả họ Mạc ” thì ngài Mạc Đăng Dung có 10 con trai :

– Con trai trưởng tức là Hoàng Thái Tử Đăng Doanh

– Con thứ 2 là Hoàng tử Chính Trung phong Hoàng Vương

– Con thứ 3 là Hoàng tử Phục Sơn phong Định Vương

– Con thứ 4 là Hoàng tử Nhân Phủ phong Khang Vương

– Con thứ 5 là Hoàng tử Quang Khải phong Quảng Vương

– Con thứ 6 là Hoàng tử Nhân Quảng còn nhỏ chưa phong tước.

– Con thứ 7 là Hoàng tử Đại Đô còn nhỏ chưa phong tước

– 3 con trai khác đều chết non.

Ngài Mạc Đăng Dung lên ngôi vua năm 1527 làm vua được 03 năm đến năm 1530 truyền ngôi báu cho con trai trưởng là Đăng Doanh tức Thái Tông Hoàng đế, lấy niên hiệu Đại Chính; cũng năm ấy Thái tông Hoàng đế liền cử Khang Vương Mạc Nhân Phủ vào trấn miền trị – Thiên Châu Thuận và Hoàng đệ thứ 5 là Quảng Vương Mạc Quang Khải vào quản trấn miền Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định.

Trong khoảng thời gian từ 1530 – 1545 hai thân vương nhà Mạc ở hai miền đất phía Nam, được sống trong cảnh bình yên ổn định để củng cố xây dựng lực lượng.

Trong lúc đó ở Thăng Long Mạc Đăng Doanh băng hà làm vua được 11 năm, con trưởng Mạc Phúc Hải được truyền ngôi báu và đổi niên hiệu là Quảng Hà và đến ngày 8-5 năm Bính Ngọ 1546 thì băng hà và truyền ngôi báu cho con trai trưởng là Mạc Phúc Nguyên mới 6 – 7 tuổi chưa biết quyết đoán được việc gì nên nội bộ nội tộc nẩy sinh những bất đồng không giải quyết được rồi chống đối lẫn nhau gay gắt nên một số quan lại, tướng tá chạy sang phò nhà Lê. Cũng trong khoảng thời gian đó cuộc chiến tranh giữa Nam Triều và Bắc Triều (1546 – 1592) cuộc chiến tranh diễn ra rất ác liệt và kéo dài 47 năm mới chấm dứt bằng sự thắng lợi của Nam Triều. Cuộc chiến tranh diễn ra chủ yếu bằng những cuộc tấn công liên tiếp của Nam Triều vào các năm 1551-1559 và cũng là thời kỳ Vương triều nhà Mạc gặp rất nhiều khó khăn nội bộ có nhiều mâu thuẫn khó giải quyết. Mặt khác nạn thảm sát, chu di kéo dài nhiều năm trời diễn ra khắp nơi đối với nhà Mạc của tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn có lần lên tới hàng trăm người một lúc nhằm uy hiếp tình thần để xóa bỏ đối thủ. Mặc dầu trong lúc này nội bộ Nam Triều có nhiều mâu thuẫn gay gắt giữa hai dòng họ Trịnh – Nguyễn mà nguyên nhân dẫn đến là sau khi Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc là Dương chấp nhật đầu đọc chết (năm 1545). Trịnh Kiểm con rể Nguyễn Kim nắm binh quyền, một mặt chi huy công cuộc chống nhà Mạc, mặt khác tìm mọi cách giết hại các con trai của Nguyễn Kim, tước đoạt thế lực của họ Nguyễn để xây dựng quyền thế tập cho dòng họ Trịnh. Năm 1540 Trịnh Kiểm đã ám hại Nguyễn Uông là con trai cả của Nguyễn Kim. Con trai thứ là Nguyễn Hoàng lo sợ bị chung số phận với người anh mình nên đã nhờ chị là vợ của Trịnh Kiểm vận động cho được vào trấn thủ xứ Thuận Hoá (lần thứ nhất) để khỏi bị sát hại (vùng đất phía Nam từ Thanh Hoá đến Bình Định lúc giờ thuộc phạm vi thống trị của Nam Triều còn từ Ninh Bình trở ra thuộc Bắc Triều do nhà Mạc quản lý).

Năm 1543 Lê – Trịnh cấu kết đánh chiếm Tây Đô Vương Mạc Chính Trung và Vương Mạc Phúc Sơn đều phải lui về Hải Dương.

Năm 1545 Lê – Trịnh bắt đầu vào đánh chiếm vùng Thuận – Quảng. Trong bối cảnh lịch sử bất khả kháng như vậy khôn ngoan nhất là phải tìm mọi cách để tự bảo vệ mình, bảo vệ dòng tộc nên Khang Vương Mạc Nhân Phủ và Quảng Vương Mạc Quang Khải bí mật cho lực lượng phân tán tại chỗ đi vào vùng sâu vùng xa để mai danh ẩn tích bảo vệ lực lượng chờ đợi thời cơ.

Đến năm 1570 nhà Mạc ở Thăng Long thế lực đã vững mạnh trở lại mới sai tướng Lập Bạo vào để củng cố 2 vương ở Thuận – Quang nhưng bị Nguyễn Hoàng dùng kế lừa giết hại từ đó 2 vương ở Thuận Quảng cũng như Vương triều ở Thăng Long không thể liên lạc với nhau được nữa.

Tình thế lại rơi vào hoàn cảnh thân cô thế cô; mặt khác Lê – Trịnh – Nguyễn lúc bấy giờ cấu kết với nhau để tìm cách tiêu diệt để trả thù; làm tiêu tan ý chí phục thù của con cháu nhà Mạc tránh mọi hậu họa cho con cháu họ Trịnh mai sau.

Trong hoàn cảnh này không có cách nào khác hơn buộc Khang Vương Mạc Nhân Phủ và Quảng Vương Mạc Quang Khải phải kịp thời có quyết định đúng đắn nhìn xa trông rộng tránh mọi hậu họa về sau và sáng suốt nhất là thay tên đổi họ để dấu tông tích nhằm bảo vệ sự tồn vong của dòng tộc là trên hết, là thiêng liêng nhất vậy nên :

– Hoàng Tử thứ 5 là Quảng Vương Mạc Quang Khải đang trấn ở vùng đất Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định đã đổi từ họ Mạc sang họ Mạc sang họ Huỳnh (Hoàng) nhưng vẫn giữ nguyên “bộ thảo đầu của họ Mạc” (trang 515 H.B.T.P họ Mạc)

Còn Khang Vương Mạc Nhân Phủ đang trấn ở miền đất Trị Thiên (Châu Thuận) thì được đổi thành họ Thái nhưng may mắn thay bộ thảo đầu của chữ Mạc vẫn còn giữ nguyên trên đầu của chữ Thái, còn các dấu tích khác do cuộc chiến tranh giữa Nam Triều và Bắc Triều ở Trị Thiên lúc bấy giờ quá ác liệt và do quá lo sợ tìm diệt nên phải phân tán ở vùng sâu vùng xa để mai danh ẩn tích và không giám liên hệ với nhau nữa mà chỉ chăm lo khai phá miền đất mới đến để sản xuất, mưu cầu cuộc sống mới và duy trì giống nòi, mãi cho tới 30 năm sau (1600) Mạc Cảnh Hưống (Lý Hòa em của Mạc Lý Tường là hoàng tử thứ 5 con của Mạc Đăng Doanh) và bà Mạc Thị Giai sinh năm 1578 là trưởng của Khiêm Vương Mạc Kính Điển là hoàng tử thứ 3 con của Mạc Đăng Doanh bà là cháu ruột của Mạc Cảnh Hưống người làng Nghi Dương tỉnh Hải Dương. Khi thân phụ bà bị tử trận (1580) bà theo chú (Mạc Cảnh Huống) và gia quyến vào nam ẩn cư ở Chùa Lam Sơn tỉnh Quảng Trị. Phụ thân của Ông Huống là dì của Đức Huy Tông vì thế bà được tiến vào hầu ở triều đình(chỗ ở của thế tử khi chưa lên ngôi). Bà tính nết hiền thục cử chỉ đoan trang thanh nhã, lời nói hành động đều đúng khuôn phép nên Đức Huy Tông rất thương yêu và cho đổi thành họ Nguyễn. Bà mất ngày 12 tháng 12 năm 1630 thọ 53 tuổi bà được truy tặng là Doanh cơ, thụy là Khả Tiết. Đời Vũ Vương bà được truy tôn “Huy Cung Từ Thân Thuận Phi” lăng táng tại núi Chiêm Sơn huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam.

– Còn Mạc Cảnh Huống sinh ngày 05 tháng 08 năm 1542 vào những năm của thế kỷ 16 nhà Mạc có chiều hướng suy yếu ở đằng ngoài sau khi suy nghĩ kỹ bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ là năm 1592 tướng Nam Đạo của nhà Mạc là Bùi Văn Khuê nổi dậy chống lại Bắc Triều, đem toàn bộ lực lượng Thủy quân phòng thủ vùng Đông Nam đầu hàng quân Trịnh. Tháng 11 năm 1592 quân trịnh tấn công ra Bắc đánh bại quân Mạc ở nhiều nơi, quân Mạc tan tác nhiều tướng sỹ đầu hàng quân Trịnh, tháng 12 năm 1592 Trịnh lùng bắt được vua nhà Mạc là Mạc Mậu Hợp. Nhà Mạc đến đây bị tan rã và kết thúc lần thứ nhất.

Mạc Cảnh Huống không ra cánh Bắc mà trở vào cánh Nam đi theo Nguyễn Hoàng. Khi còn ở đằng ngoài vào tuổi 22 tức năm 1564 người lập gia đình với bà Nguyễn Thị Ngọc Dương em gái của phu Nhân Đoan quận công Nguyễn Hoàng (như vậy Mạc Cảnh Huống và Nguyễn Hoàng là anh em bạn rể với nhau). Sau khi Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng vào trấn Thuận Hóa lần thứ 2 (1600) Mạc Cảnh Huống trở thành một trong ba nhân vật đắc lực giúp đỡ chúa Nguyễn, từ khi chúa Tiên Nguyễn Hoàng qua thời chúa sãi Nguyễn Phúc Nguyên đến thời chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan. Suốt 38 năm liên tục (1600-1638) ngài là vị chỉ huy tố cao của quân đội đằng trong, người vạch ra chiến lược quân sự để chống quân Trịnh ở phương Bắc và bình quân chiêm ở phương Nam. Thời chú Tiên Nguyễn Hoàng tấn phong ngài chức : Nguyễn Huân sự Thống Thủ Thông Thái Phó.

Dưới thời chúa sãi Nguyễn Phúc Nguyên, ngài giữ vai trò quan trọng trong đường lối hòa bình để bình định bộ tộc Man ở Ai Lao. Tiếp đó ngài cũng góp phần vào chiến thắng quân Trịnh Tráng đánh vào đằng trong lần thứ nhất năm 1627 và lần thứ 2 vào năm 1633. Năm Mậu dần (1638) ngài xin trở về với cuộc sống đời thường ở tuổi 96 để tu hành và chọn làng Trà Kiệu, huyện Diên Phước, dinh Quảng Nam làm quê hương thứ 2. Nơi đây ngài xây dựng ngôi chùa thờ nhật gọi là “Bửi Châu Sơn Tự” và ngài trở thành chủ trì ngôi chùa này với pháp danh Thuyền Cảnh Chân Tu. Ngài mất vào giờ thìn ngày 01 tháng Giêng năm Bính Tý (1677) thọ 135 tuổi. Mộ ngài mai táng gần chùa Bửu Châu Sơn Tự. Ngài là thủy tổ chỉ họ Nguyễn Trường Trà Kiệu Tây, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Ngài hạ sinh Mạc Cảnh Vĩnh sinh ngày 05 tháng 05 năm Mậu Dần (1578) và mất ngày 03 tháng 01 năm Giáp Ngọ (1654). Từ Nguyễn Phước Vinh đến 5 đời sau đều mang họ Nguyễn Phước. Đến thời Tây Sơn tộc Nguyễn Phước tại đây đổi sang Nguyễn Trường cho đến nay.

Như vậy Nguyễn Hoàng vào miền đất Thuận Quảng hai lần lần thứ nhất 1558, lần thứ 2 năm 1600 cùng đi có Mạc Cảnh Hướng và Mạc Thị Giai như đã được đề cập rõ ràng ở trên. Thế nhưng trong gia phỉa họ Thái làng Cam Lộ tỉnh Quảng Trị trong lời nói đầu không nói rõ nguồn gốc xa xưa vì mấy trang đầu của gia phả bị thất lạc nên chỉ ghi : “Theo lời truyền lại thì họ Thái chúng ta xưa ở Miền Bắc (Trung đô) từ triều lê Trịnh Kiểm chuyên quyền. Lúc ấy Lý Nhị Đại Lang thập tam thế cao đời (13 đời) theo đức Thái tổ Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa (1558) trú tại làng Cam Lộ, huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong đồng thời ngài đầu họ đầu họ Thái Văn Song ở làng Quy Thiện phủ Hải Lăng tức là ngài đầu tiên họ cụ Đông các Thái Văn Toản. Ngài thập tam thế cao sinh hạ Thập Nhị, Thập Nhất thế cao truyền đến bát thế cao thì gặp loạn Tây Sơn gia phổ bị sơ ý thất lạc một số đầu tiên, nên không xác nhận được. Nếu cứ ngọc phố phố trước thì bát thế cao sinh hạ thất thế cao ngài Thái Văn Vĩnh và bà sinh hạ Thái Tăng Công, Thái Văn Dung”

Theo lời truyền mới đọc qua thấy cũng hợp lý. Nhưng nếu nghiên cứu kỹ lịch sử Việt Nam và các dòng họ ở Việt Nam, nhất là “Hợp biên thế phải họ Mạc” thì có nhiều mâu thuẫn, mập mờ khó hiểu chỉ có những người con lớn tuổi lúc bấy giờ mới biết rõ nguồn gốc dòng họ nhưng không giám nói rõ ra được chỉ để gây tâm lý tò mò muốn biết rõ nguồn gốc của con cháu.

Muốn biết rõ phải có một phương pháp nghiên cứu một cách nghiêm túc, có các căn cứ khoa học để thẩm tra các sự kiện có liên quan đến nguồn gốc dòng họ. Nếu lấy năm 1558 làm mốc để xem xét các vấn đề trong lời truyền thì thấy : 1558 họ Thái đi theo Nguyên Hoàng vào ở Thuận Hoá lúc đó là đời thứ 13 có nghĩa họ Thái có cách thời điểm đó khoảng 300 năm (1258) ở thời điểm này Bắc miền trung chưa có họ Thái thì lấy đâu ra họ Thái để đi với Nguyễn Hoàng và còn nói đi với đức Thái Tổ Nguyễn Hoàng. Thời điểm này Nguyễn Hoàng có làm vua đâu mà nói đức Thái Tổ đấy là một điều vô lý chắc các bậc tiền nhân đã biết rõ nhưng vẫn cố tình nói lên điều vô lý đó. Một vấn đề nữa là Lý Nhị Đại Lang đời thứ 13 là ai, họ gì ? Mạc hay Thái. Tại sao không nói rõ? Vì sợ tìm diệt con cháu. Lý Nhị là Lý Hòa là Mạc Cảnh Huống đời thứ 13 của họ Mạc như đã nói rõ ở trên là sự thật không chối cãi được. Còn Đại Lang là Niên Hiệu đại diện cho người cần dấu tên họ chính là Mạc nhân Phủ vào Thuận Hóa 1530. Nhưng đến đây có thể khẳng định là họ Mạc đổi thành họ Thái nhưng không phải từ Mạc Cảnh Huống mà từ Mạc Nhân Phủ. Còn vấn đề do có loại Tây Sơn gia phả bị sơ ý thất lạc một số đầu tiên không xác định được. Cũng thật khó hiểu – Phong Trào Tây Sơn đánh đổ chính quyền ở đàng trong vào mùa xuân năm 1771 – 1558 = 213 năm sau mới mất nhưng chỉ mất một số trang đầu thật là vô lý và khó hiểu?

– Năm 1676 Mạc Kính Hoàn (Mạc Kính Vũ) bị Triều đình Lê – Trịnh cấu kết với nhà Thanh đưa đại quân đánh Cao Bằng. Quân nhà Mạc bị tan rã. Mạc Kính Vũ phải chạy trốn sang Long Châu (Quảng Tây- Trung Quốc) và bị quân nhà Thanh bắt giữ và giao cho Quân Trịnh. Vương Triều Mạc kết thúc lần thứ hai trong lịch sử nước ta từ đấy.

Đến đây con cháu Mạc Nhân Phủ ở Thuận Hoá không còn một tia hy vọng nào nữa để nối với cuội nguồn họ Mạc được nữa nên mới quyết định huỷ bỏ một số trang đầu của gia phả để dấu tông tích là hợp lý duy nhất, một việc làm bất đắc dĩ không làm không được vì sự tồn vong của giống nòi của họ Mạc. Nhưng không thể không cho con cháu biết nguồn gốc xa xưa là họ gì và tư đâu đến. May mắn nhờ có sự kiện Mạc Cảnh Huống đi theo Nguyễn Hoàng vào trấn ở miền đất Thuận Quảng lần thứ 2 (1600) sau đó có thể là Mạc Nhân Phủ hoặc con của ông lợi dụng sự kiện trên để tung dư luận một cách mập mờ về nguồn gốc dòng họ (vì sự cấu kết giữa Lê – Trịnh – Nguyễn nhằm tiêu diệt tận gốc nhà Mạc để trả thù vẫn còn tiếp diện nên không thể nói rõ nguồn gốc được) Để sau này con cháu có thể tìm về với cội nguồn là họ Mạc.

Việc dấu tông tích rát khôn khéo tồn tại trong một thời gian dài đã lùi về quá khứ cách đây hơn 450 năm. Nếu con cháu không tâm huyết, không chịu khó nghiên cứu về lịch sử đất nước và dòng tộc thì khó lòng mà truy tìm được cội nguồn của dòng họ. Nhưng may mắn thay dấu tích còn lại duy nhất là chữ họ Thái có bộ thảo đầu của họ Mạc là một căn cứ quan trọng cùng với các sự kiện đã được phân tích chứng minh một cách khách quan trên. Họ Thái làng Cam Lộ là từ họ Mạc đổi ra mà có. Một sự kiện khác tôi cho rằng cũng khá quan trọng cần được xem xét nghiên cứu nghiêm túc đó là: Có một người chữa bệnh bằng ngoại cảm mới gặp tôi lần đầu tiên và chưa biết họ tên tôi là gì? đã khẳng định họ của tôi không phải là họ Thái mà là họ Mạc. Tại sao biết, tôi hỏi ? Vì tôi biết nhiều chuyện ở trên đời này mà nhiều người không biết.

Khi tôi có nhu cầu muốn gặp ông nội tôi để nói chuyện thông qua một nhà ngoại cảm nổi tiếng ở Hàm Rồng Thanh Hoá, sau khi nhắc lại một số sự kiện đặc biệt của cuộc đời tôi và nói nhờ có sự trợ giúp của ông mới tai qua nạn khỏi và có cuộc sống dễ chịu hôm nay, ông còn khen tôi có tâm huyết với dòng họ, anh em biết đùm bọc lẫn nhau khi có khó khăn và cho tôi biết: Họ ta là họ Mạc. Tôi bảo trong gia phả ghi là họ Thái cơ mà. Biết rồi, phải như thế mới ở yên ở xưa đó có hiểu không?

Một vấn đề khác nữa là từ đó đến nay đã hơn 400 năm đất nước đã trải qua biết bao biến cố, lịch sử đáng tự hào đã đưa dân tộc Việt Nam từ nghèo nàn lạc hậu đến chỗ cùng sánh vai với các cường quốc năm châu. Đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho các dòng tộc tìm về cuội nguồn của mình. Vì đó là một nghía cử cao đẹp uống nước nhớ nguồn của người Việt Nam. Thế nhưng hiện nay các họ Thái ở Huế ở Quy thiện, ở Cam Lộ, ở Trương Xá, ở Vĩnh Linh có khoảng hơn 6.000 nghìn người trong đó có hàng chục tiến sỹ các ngành khoa học, hàng trăm cán bộ cấp cao ở tỉnh ở Bộ và hàng nghìn người tốt nghiệp Đại học vẫn chưa biết rõ họ của mình nguồn gốc từ đâu đến? Riêng họ Thái làng Cam Lộ như đã sơ bộ trình bày ở trên nên chỉ mới có thể khẳng định như một nguồn ánh sáng lóe lên trong đêm tối đã chỉ ra đường tìm về cội nguồn của dòng họ. Nhưng cần phải tiếp tục nghiên cứu tìm tòi, phân tích các sự kiện lịch sử đất nước và dòng tộc họ Thái ở Châu Thuận Hóa cũ mới khẳng định được nguồn gốc từ đâu đến? Một điều có thể khẳng định được ngay là họ Thái ở Châu Thuận Hoá không thể từ trên trời rơi xuống hoặc dưới đất chui lên được? Và Khang Vương Mạc Nhân Phủ không thể tự nhiên mà biến mất một cách lạ lùng trong lịch sử đất nước cũng như dòng họ Mạc được.

Tất cả các vấn đề Tôi đã đề cập ở trên không ngoài mục đích chứng minh họ Thái ở Cam Lộ là do họ Mạc đổi ra mà có. Nhưng do tính chất công việc rất quan trọng và rất tế nhị nên tôi không giám khẳng định một mình được mà cần có sự đồng thuận của cả dòng họ và hơn nữa tư liệu thu thập còn quá ít ỏi, điều kiện thu thập bằng chứng còn găp nhiều khóa khăn thời gian để nghiên cứu hạn chế, lại tuổi cao sức yếu và rất nhiều bệnh tật hiểm nghèo. Kiến thức hiểu biết về lịch sử các dòng họ ở Việt Nam còn hạn chế, nhất là các họ Thái ở Vĩnh Linh, Trương Xá Cam Lộ, Quy Thuận Hải Lăng và họ Thái ở Thừa Thiên Huế vì vậy cần có sự trợ giúp đầy tâm huyết của các thành viên Hội đồng gia tộc các Họ Thái ở Châu Thuận Hóa cũ (Trị Thiên hiện nay) và cung cấp những tư liệu, kỷ vật, dấu tích về thời gian hoặc hoành phi, câu đối v.v… của dòng họ mà tôi chưa có. Đồng thời mong được sự chỉ giáo của các nhà Khoa học nghiên cứu lịch sử các dòng họ ở Việt Nam về phương pháp luận và những tư liệu quý giá để có thế khẳng định được Họ Thái ở Trị Thiên từ đâu đến? Đồng thời mong muốn có sự trợ giúp của ban liên lạc Họ Mạc ở Hà Nội về mọi vấn đề, để có thể khẳng định Họ Thái ở Châu Thuận Hóa cũ có phải do họ Mạc Nhân Phủ thay đổi họ mà có hay từ đâu đến?

Tôi xin chân thành cảm ơn và Kính chúc sức khỏe dồi dào và hạnh phúc!

Rất mong muốn được sự trợ giúp của quý vị!

Địa chỉ khi cần liên hệ : Thái Văn Ký
– Thái Văn Ký – Cán bộ hưu trí
– Hiện ở tại 24 phố Thuốc Bắc – phường Hàng Bồ – quận Hoàn Kiếm – TP Hà nội
– Điện thoại :
+ NR : 04 – 3 828 0149

+ DĐ : 091 4312 401

Post navigation

  1 comment for “Nguồn gốc họ thái (gốc Mạc) ở cam lộ Quảng trị

  1. admin
    Tháng Năm 20, 2015 at 7:28 sáng

    Cảm ơn Bác Ký về bài viết hữu ích này

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *