Trăm Họ Việt Nam

Xin lưu ý quý vị là ở đây, những nguời đuợc coi là Việt Nam nhưng thực ra thuộc nhiều sắc tộc khác nhaụ Có nhiều HỌ gốc Tầu, hoặc dứt khoát là nguời Việt gốc Tầu, co” nguời gốc Chàm, Miên, Lào và thuộc các bộ lạc sắc tộc.

Tất cả đều gồm hết vào đâỵ Đặc biệt là trong thời chiến, gốc gì thì gốc, tất cả đều đi lính hết. Không lính Nam thì lính Bắc, không động viên thì nghĩa vụ quân sư.. Bây giờ xin xếp tất cả họ Việt Nam theo mẫu tự như saụ Mỗi mẫu tự

chúng tôi lại xin phép lấy một danh tính để làm thí dụ

A: Ân, Âu (Âu cơ)
B: Bách, Bằng, Bành, Bảo, Bùi, Bửu, Bế, Bạch (Bạch
Thái Buởi)

C: Cai,Cái , Cẩm, Cang, Canh, Chu, Chung, Chuơng, Côn, Công, Cung, Cao (Cao Văn Viên)
D: Dao, Du, Duơng (Duơng Văn Hợp)

Đ: Đặng, Đàm, Điệp, Đinh, Đỗ, Đoàn, Đèo (Sư bà Đàm Lựu).

G: Giang, Giạ Giáp (Giáp Văn Thập)
H: Hà, Hàn, Hầu, Hồ, Hoa, Hoàng, Hồng, Hứa, Hùng,
Huỳnh (Huỳnh Thúc Kháng).

K: Kha, Khổng, Khuất, Khuơng, Khưu, Kiều, Kim, Khúc (Khúc Minh Thơ)
L: La, Lai, Lâm, Lâu, Lê, Liên, Liêu, Lợi, Long, Ly, Lồ, Lộ, Lều, Liều, Lực, Luơng, Lưu, Lý, Lã, Lư (Lư Tấn Hồng).

M: Ma, Mạch, Mạnh, Mai, Mao, Mã (Mã Sanh Nhơn).
N: Ngô, Nghiêm, Ngu,Ngũ , Ngụy (Ngụ Như Kontum), Nguyễn, Nhan, Ninh.

O: Ông, On, Oanh.
P: Pham, Phan, Phi, Phố, Phổ, Phong,
Phú, Phùng, Phuơng.

Q: Quốc, Quang, Quách (Quách Đàm).
S: Sơn, Sa, San

T: Tạ, Tâm, Tăng, Tao, Tất, Thạch, Thái, Thân, Thanh, Thiệu, Tiến, Tô, Tôn, Tống, Trắc, Trâm, Trần, Trang, Triệu, Trịnh, Truơng, Tư, Từ (Từ Văn Bê).

U: Ung (Ung văn Khiêm).
V: Vân, Vũ, Vi, Viên, Vinh, Vô, Vong, Vuơng, Vưụ

Quý độc giả bốn phuơng nếu biết có họ nào khác lạ cùng với dẫn chứng, xin gởi về:

Hội Quán Viet Nam, 399W San Carlos
San Jose, CA 95110 (408) 971-7861
Chúng tôi sẽ bổ túc thêm sau,

Xin cảm tạ:YÊN MÔ

TÔ NGỌC xin tạm kết thúc: 

Viết về chung quanh chuyện tên họ Việt Nam, thì còn nhiều chuyện lan man, xin hẹn quý bạn độc giả trong một dịp khác. Riêng phần nguời viết bài này, xin góp thêm với ông Yên Mô vài họ, gọi là chút cảm tình đồng nghiệp:
Họ Tôn Thất (khác với họ Tôn, như nha sĩ Tôn Thất Thọ), họ Ôn (như Ôn Văn Tài, chồng nữ ca sĩ Thanh Thuý), họ Phí (có dấu sắc, như Phí Ích Nghiễm, tên thật của nhà văn Duơng Nghiễm Mậu), họ Trưng (như Trưng Trắc, Trưng Nhị), họ Thi (như Thi Sách chồng bà Trưng Trắc), họ Chử như nhà báo Chử Bá Anh), họ Văn (như Văn Thành Cao, Văn Văn Của), họ Võ (một phát âm của Vũ, như Võ Đại Tôn, Võ Văn Ái), họ Lữ (một phát âm của Lã, như nghệ sỹ Lữ Liên, thân phụ các danh ca Khánh Hà, Tuấn Ngọc), họ Sầm (bà Sầm Thị Tùng, nguời thiểu số ở Tùng Nghĩa, là vợ ông Phạm Ngọc Lễ, nhân viên báo Saigon Post truớc năm 1975, nay định cư tại Úc Châu).

Họ Khu (như Trung Tá QLVNCH Khu Đức Hùng, bị Việt Cộng ở trại Gia Trung đánh tuởng chết, nhưng không ngờ sống lại đuợc, các bạn tù đặt cho ông biệt danh “Không Đầu Hàng”, họ Doãn (như nhà văn Doãn Quốc Sỹ), họ Ca (như Ca Lê Thuần hiện ở VN) vv …

Còn họ Huỳnh thì chỉ có từ miền Trung trở vào Nam, là họ “Hoàng”, đuợc đọc thành “Huỳnh” vì kiêng tên chúa Nguyễn Hoàng. Riêng về tên con nguời, nguời ta đọc Nguyên thành Nguơn (chứ không phải Ngươn), là kiêng tên chúa Nguyễn-Phúc-Nguyên, còn hai họ Truơng và Chuơng (như chủ tịch Hội Cao Niên Truơng Đình Sửu, và Duợc sĩ Chuơng Văn Vĩnh).

Không hiểu chữ Hán có phải là hai chữ viết khác nhau, hay chỉ là một chữ, nhưng do nguời miền Bắc VN thuờng ít phân biệt TR và CH nên Truơng đã thành Chuơng chăng?

[st] TÔ NGỌC – Nguồn: e-cadao.com

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *